Số liệu thống kê

BÁO CÁO Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2017
Thu, 28/09/2017 10:00 | GMT +7

Kinh tế - xã hội của tỉnh 9 tháng năm 2017 diễn ra trong bối cảnh kinh tế trong nước chuyển biến tích cực với những kết quả nổi bật về cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, xuất khẩu, thu hút khách quốc tế và đầu tư nước ngoài, tuy nhiên cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn: Tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chững lại, giá nông sản, thực phẩm, nhất là giá thịt lợn giảm mạnh tác động tiêu cực tới chăn nuôi và thách thức tới mục tiêu tăng trưởng của cả nước. Trên địa bàn tỉnh, trước những diễn biến phức tạp của thời tiết và biến đổi khí hậu, lũ ống, lũ quét xảy ra trên địa bàn huyện Mường La gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, làm ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống nhân dân, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các ngành, địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017, đồng thời ban hành Nghị quyết số 10/2016/NQ-HĐND ngày 12/12/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, nhờ đó đã khắc phục được khó khăn, ổn định đời sống dân cư và phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong 9 tháng năm 2017 như sau:

I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

a. Trồng trọt

Sản xuất cây hàng năm 9 tháng năm 2017 không có biến động lớn về diện tích, tổng diện tích gieo trồng đạt 255.032 ha, trong đó cây lương thực có hạt 192.598 ha chiếm 75,5%; cây lấy củ có chất bột 36.130 ha chiếm 14,2%; cây mía 8.039 ha chiếm 3,2%; cây lấy sợi 31 ha chiếm 0,01%; cây có hạt chứa dầu 2.839 ha chiếm 1,1%; cây rau, đậu, hoa, cây cảnh 7.643 ha chiếm 3,0%; cây gia vị, dược liệu 266 ha, chiếm 0,1%; cây hàng năm khác 7.486 ha chiếm 2,9%. So với cùng kỳ năm trước diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm 2,7%, trong đó cây lương thực có hạt giảm 5,7%; cây lấy củ có chất bột tăng 1,3%; cây mía tăng 27,6%; cây lấy sợi giảm 75,4%; cây có hạt chứa dầu giảm 9,2%; cây rau đậu, hoa, cây cảnh tăng 5,4%; cây gia vị, dược liệu tăng 23,7%; cây hàng năm khác tăng 45,3%.

Trong tổng diện tích cây lương thực có hạt, diện tích lúa gieo trồng 50.756 ha, trong đó lúa ruộng 30.906 ha chiếm 60,9%, lúa nương 19.850 ha chiếm 39,1%, so với cùng kỳ năm trước diện tích lúa giảm 1,9%, trong đó lúa ruộng tăng 0,9%, lúa nương giảm 6,0% do trồng trên đất dốc, độ màu mỡ bị sói mòn, đầu tư thâm canh hạn chế, hiệu quả kinh tế thấp; diện tích ngô gieo trồng 141.842 ha, giảm 7,0% so với cùng kỳ, do giá bán không ổn định, một số diện tích bị bỏ hoang hoặc chuyển đổi sang trồng cây khác.

Trong tổng diện tích cây lấy củ có chất bột, diện tích sắn gieo trồng 32.558 ha, chiếm 90,1% và giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, do giá bán không ổn định và do không được đầu tư nên năng suất thấp.

Thu hoạch sản phẩm vụ đông xuân năm nay đạt 69.672 tấn thóc; 4.390 tấn ngô; 529.842 tấn mía; 398 tấn đậu tương; 742 tấn lạc; 63.400 tấn rau, đậu các loại. So với vụ đông xuân năm 2016 sản lượng lúa tăng 1,9%; ngô tăng 21,2%; mía tăng 26,6%; đậu tương giảm 31,4%; lạc tăng 0,5%; rau, đậu các loại tăng 12,5%.

Thu hoạch sản phẩm vụ mùa tính đến trung tuần tháng 9 đạt 165.400 tấn ngô; 118 tấn khoai lang; 32 tấn lạc; 5.809 tấn rau, đậu các loại. So với cùng kỳ năm trước ngô tăng 34,0%; khoai lang tăng 8,3%, lạc giảm 3,0%; rau, đậu các loại tăng 4,3%.

Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển, tổng diện tích cây lâu năm hiện có 53.866 ha, trong đó cây ăn quả 29.506 ha chiếm 54,8%, cây lấy sản phẩm cho công nghiệp chế biến 23.132 ha chiếm 42,9%. So với cùng kỳ năm trước diện tích cây lâu năm tăng 18,7%, trong đó cây ăn quả tăng 38,3% do thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển Hợp tác xã trồng cây ăn quả, cây dược liệu theo Nghị quyết số 17/2016/HĐND; chính sách hỗ trợ giống cây trồng theo Nghị quyết 57/2017/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh và chủ trương hỗ trợ giống cây trồng cho huyện Mường La sau thiệt hại lũ quét; cây lấy sản phẩm cho công nghiệp chế biến tăng 1,0%.

Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh trồng mới 657 ha cà phê; 107 ha chè; 6.371 ha cây ăn quả trong đó trồng trên đất dốc 4.890 ha (trên đất trồng lúa nương 27 ha, đất trồng ngô 4.442 ha, đất trồng sắn 336 ha, đất trồng cà phê 85 ha); 986 ha cây lâu năm lai ghép cho năng suất và chất lượng cao. Toàn tỉnh hiện có 16.353 ha cây ăn quả trồng trên đất dốc; 6.815 ha cây lâu năm được ghép lai; 91 ha rau các loại, 248 ha chè, 118 ha nhãn, 05 ha mận, 26 ha xoài, 08 ha chanh leo, 05 ha thanh long và 20 ha na theo tiêu chuẩn VietGap.

Đã thu hoạch được 35.087 tấn nhãn, tăng 2,6%; 11.828 tấn xoài, tăng 11,1%; 25.395 tấn mận, giảm 1,8%; 253 tấn na, giảm 2,7%; 18.624 tấn chuối, tăng 17,0%; 2.108 tấn bơ, tăng 52,3%; 1.540 tấn chanh leo, tăng 3,9 lần; 756 tấn sơn tra, giảm 3,4%; 33.501 tấn chè, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước; cao su 251 tấn.

Tháng 9/2017 trên địa bàn tỉnh xuất hiện dịch bệnh đối với một số cây trồng: Lúa 884 ha; chè 32 ha; cà phê 297 ha; cây ăn quả 41 ha; cây hàng năm khác 70 ha, tuy nhiên không có diện tích mất trắng, dự ước giá trị thiệt hại 306 triệu đồng.

b. Chăn nuôi

Chăn nuôi gia súc, gia cầm nhìn chung ổn định, ước tính tổng đàn trâu hiện có 144.570 con, giảm 3,2%; đàn bò 276.214 con, tăng 9,0%; đàn lợn 587.578 con, giảm 1,8%; đàn gia cầm 5.845 nghìn con, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước.

9 tháng năm nay tổng sản lượng sản phẩm thịt hơi xuất chuồng dự ước đạt 47.661 tấn, trong đó sản lượng thịt trâu đạt 3.692 tấn, thịt bò 3.951 tấn, thịt lợn 30.651 tấn, thịt gia cầm 7.993 tấn. So với cùng kỳ năm trước tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 6,0%, trong đó thịt trâu tăng 1,0%, thịt bò tăng 7,4%, thịt lợn tăng 7,3%, thịt gia cầm tăng 1,0%. Sản lượng sữa tươi ước đạt 59.296 tấn, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước.

Trên địa bàn tỉnh xuất hiện một số dịch bệnh trong 9 tháng: Dịch lở mồm long móng ở huyện Mai Sơn làm 178 con gia súc mắc bệnh, chết 14 con; bệnh tụ huyết trùng ở huyện Sốp Cộp, Vân Hồ, Mường La và Phù Yên làm chết 36 con gia súc; bệnh ung khí thán ở huyện Vân Hồ làm 73 con gia súc mắc bệnh, chết 46 con, chữa khỏi 20 con, thiệt hại ước tính 509 triệu đồng.

Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm từ đầu năm đến nay được 225.800 liều vắc xin THT; 74.805 liều vắc xin lở mồm long móng; 57.470 liều vắc xin tả; 115.809 liều vắc xin dại; 32.400 liều vắc xin gia cầm; 3.300 liều vắc xin niu cát xơn; 11.275 liều vắc xin đậu dê. Công tác kiểm dịch xuất và nhập gia súc, gia cầm đuợc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo kịp thời phát hiện và xử lý nhanh các trường hợp gia súc, gia cầm mắc bệnh, tránh dịch bệnh lây lan ra diện rộng.

2. Lâm nghiệp

Theo báo cáo của Chi cục Kiểm Lâm, 9 tháng năm nay toàn tỉnh đã ươm được 10.700 nghìn cây đạt tiêu chuẩn, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước; trồng mới 2.520 ha rừng trồng tập trung, giảm 45,9% (do không có vốn); 133 nghìn cây lâm nghiệp trồng phân tán, tăng 2,3%.

Diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 9.450 ha rừng các loại; rừng trồng được khoanh nuôi tái sinh 100.200 ha; rừng được giao khoán, bảo vệ 598.200 ha. So với cùng kỳ năm trước diện tích rừng trồng được chăm sóc tăng 26,7%; rừng được khoanh nuôi tái sinh giảm 6,0%; rừng được giao khoán, bảo vệ giảm 8,8%.

Sản lượng gỗ khai thác 9 tháng ước tính đạt 31.342 m3, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác từ rừng tự nhiên 23.031 m3, giảm 2,7%; rừng trồng 8.311 m3, tăng 25,1%. Sản lượng củi khai thác ước tính đạt 929.185 ste, giảm 4,5% so với cùng kỳ.

Trong tháng toàn tỉnh xảy ra 14 vụ vi phạm lâm luật với tổng số tiền phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 493 triệu đồng. Tính chung 9 tháng xảy ra 435 vụ vi phạm lâm luật, giảm 5,2% so với cùng kỳ năm trước; số tiền phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 2.976 triệu đồng, tăng 63,1%.

3. Thuỷ sản

Toàn tỉnh hiện có 2.713 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản, 9.024 lồng bè nuôi trồng thủy sản với thể tích 819.486 m3. So với cùng kỳ năm trước diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng 7,1%, số lồng bè tăng 2,9 lần, thể tích tăng 3,3 lần.

Sản lượng thuỷ sản tháng 9/2017 ước tính đạt 901 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng 881 tấn, khai thác 20 tấn. Tính chung 9 tháng, sản lượng thủy sản đạt 5.346 tấn, tăng 7,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng 4.543 tấn tăng 8,1%, khai thác 803 tấn tăng 1,3%. Sản lượng giống thủy sản 9 tháng ước tính đạt 90 triệu con, tăng 40,6% so với cùng kỳ năm trước.

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng năm 2017 ổn định. Diện tích cây hàng năm giảm so với cùng kỳ do một số diện tích trồng lúa nương, ngô đã chuyển sang trồng cây khác và một số diện tích bị bỏ hoang. Diện tích các cây lâu năm phần lớn tăng so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do trồng mới cuối năm 2016 và do chuyển đổi từ một số diện tích hiệu quả kinh tế thấp sang trồng cây ăn quả trên đất dốc. Chăn nuôi gia súc, gia cầm tương đối ổn định, ít dịch bệnh, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn. Sản xuất lâm nghiệp được duy trì, công tác chăm sóc và khoanh nuôi tái sinh được quan tâm. Sản xuất thuỷ sản phát triển mạnh, nhất là nuôi cá lồng bè trên sông đà do có chính sách khuyến khích phát triển nuôi cá lồng bè theo Nghị quyết số 88/NQ-HĐND ngày 17/9/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9/2017 ước tính giảm 12,4% so với tháng trước và tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng giảm 93,4% (do công ty TNHH Mỏ Niken Bản Phúc ngừng hoạt động); cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 18,2%, chủ yếu do sản lượng điện của nhà máy thủy điện Sơn La tăng mạnh từ tháng 7/2017 (tăng gần gấp đôi so với những tháng trước, do nhu cầu sử dụng điện tăng).

Trong 9 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất ra tăng so với cùng kỳ năm trước: Đường tăng 34,9%; đá xây dựng các loại tăng 31,4%; điện sản xuất tăng 21,3% (trong đó thủy điện Sơn La tăng 24,5%); sữa chua, sữa và kem lên men hoặc axít hoá tăng 11,9%; sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác tăng 8,7%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng tăng 7,9%; chè nguyên chất tăng 4,2%. Một số sản phẩm sản xuất ra giảm: Mật đường giảm 16,7%; xi măng giảm 12,3%; các sản phẩm có thành phần sữa tự nhiên chưa phân vào đâu giảm 10,8%; gạch xây dựng giảm 9,9%; điện thương phẩm giảm 5,3%; nước uống được giảm 2,8%.

9 tháng năm nay trên địa bàn tỉnh có thêm năng lực mới tăng là 02 nhà máy may sản xuất từ tháng 5/2017 của công ty TNHH may Phù Yên với sản lượng ước tính đạt 566.000 sản phẩm quần áo, 900.000 chiếc túi và công ty CP May Tiên Sơn Mường La với 01 xưởng sản xuất đã đưa vào hoạt động, sản lượng ước tính 18.000 chiếc áo xuất khẩu sang Hàn Quốc và 35.000 sản phẩm quần áo các loại, 01 xưởng còn lại dự kiến sản xuất vào đầu tháng 10/2017; công ty CP Khoáng sản Sơn La sản xuất trở lại từ tháng 4/2017, sản lượng ước tính 6.892 tấn than đá.

Các sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ thuận lợi, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8/2017 giảm 11,8% so với tháng trước và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng: Chè nguyên chất tăng 23,0%; sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác tăng 10,4%; sữa chua, sữa và kem len men hoặc axit hóa tăng 8,7%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng tăng 1,7%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Các sản phẩm có chứa thành phần sữa tự nhiên chưa phân vào đâu giảm 14,3%; gạch xây dựng giảm 12,0%; đường giảm 10,9%; xi măng giảm 8,1%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/9/2017 tăng 384,5% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sữa chua, sữa và kem lên men hoặc axit hóa tăng 347,9%; gạch xây dựng tăng 114,9%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng tăng 53,0%; sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác tăng 17,1%; chè nguyên chất giảm 39,7%; xi măng giảm 2,2%; riêng sản phẩm đường và các sản phẩm có chứa thành phần sữa tự nhiên chưa phân vào đâu có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung, tăng 569,4% và 541,7%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2017 tăng 11,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 18,0%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 3,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 51,4% (giảm ở ngành khai khoáng).

III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, tháng 8/2017 toàn tỉnh có 40 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 128.290 triệu đồng, tăng 150,0% số doanh nghiệp và giảm 93,4% số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 3.207 triệu đồng, giảm 97,3%. Trong tháng có 03 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động và 05 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động.

Tính chung 8 tháng, toàn tỉnh có 250 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 2.324.303 triệu đồng, tăng 61,3% về số doanh nghiệp và giảm 13,0% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9.297 triệu đồng, giảm 46,1%. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động là 43 doanh nghiệp, tăng 104,8%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 13 doanh nghiệp, giảm 79,0% so với cùng kỳ năm trước.

IV. HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ

1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại, dịch vụ 9 tháng năm nay khá sôi động, các cấp, các ngành đã triển khai kịp thời các giải pháp quản lý điều hành bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn giá cả trên thị trường; khuyến khích, động viên, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh hàng hóa Việt Nam có chất lượng, giá hợp lý; tăng cường tổ chức mạng lưới bán hàng tại các huyện, thành phố; kết nối giữa nhà sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tổ chức tốt các hội chợ, các chương trình đưa hàng Việt về nông thôn. Tổ chức tuần hàng sản phẩm nông sản an toàn tại nhà khách Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, tổ chức cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, tư thương kết nối tiêu thụ các mặt hàng nông lâm sản tại các chợ đầu mối thành phố Hà Nội. Tổ chức các hội chợ, lễ hội và các hoạt động kỷ niệm 55 ngày thiết lập quan hệ ngoại giao, 40 năm ngày ký hiệp ước hữu nghị Việt Nam - Lào… đã thu hút lượng lớn khách tham quan, mua sắm hàng hóa và giao lưu văn hóa tại tỉnh, tác động đến sức mua, tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng đáng kể.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 9/2017 ước tính đạt 1.372.831 triệu đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm ngành hàng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước đều tăng, so với tháng trước các nhóm ngành hàng tăng từ 0,7% đến 1,0%, so với cùng kỳ năm trước tăng từ 11,4% đến 17,7%.

Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 12.499.416 triệu đồng, tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm ngành hàng có chỉ số tăng cao như: Ô tô các loại tăng 14,2%; xăng, dầu các loại tăng 14,2%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 14,1%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,2%; lương thực, thực phẩm tăng 12,1%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 12,1%. Các nhóm ngành hàng khác tăng từ 8,9% đến 11,4%.

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9/2017 ước tính đạt 337.205 triệu đồng, tăng 4,3% so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 2.940.435 triệu đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú tăng 23,8%; ăn uống tăng 14,0%; du lịch lữ hành tăng 24,5%; dịch vụ khác tăng 8,5%.

2. Vận tải hành khách và hàng hoá

Vận tải hành khách và hàng hóa trên địa bàn ổn định, đáp ứng nhu cầu vận chuyển và đi lại của nhân dân, đặc biệt trong dịp nghỉ Tết Nguyên đán Đinh Dậu, mùa Lễ hội năm 2017, nghỉ lễ 30/4, 01/5, 02/9 và kỳ thi THPT Quốc gia năm 2017, khối lượng hành khách tăng cao ngành giao thông vận tải đã chỉ đạo các đơn vị vận tải hành khách tăng cường xe chất lượng cao, quay vòng, tăng chuyến, huy động tối đa phương tiện đảm bảo giao thông thông suốt, an toàn.

Vận tải hành khách tháng 9/2017 ước tính đạt 305 nghìn lượt khách vận chuyển và 28.517 nghìn lượt khách.km luân chuyển, tăng 3,0% và tăng 4,0% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng, vận tải hành khách ước đạt 2.589 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 5,7% và 253.731 nghìn lượt khách.km luân chuyển, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 2.347 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 5,6% và 251.098 nghìn lượt khách.km luân chuyển, tăng 6,2%. Ước tính doanh thu vận tải hành khách 9 tháng đạt 227.728 triệu đồng, tăng 9,2%, trong đó doanh thu vận tải hành khách đường bộ 220.291 triệu đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hóa tháng 9/2017 ước tính đạt 385 nghìn tấn vận chuyển và 41.174 nghìn tấn.km luân chuyển, tăng 2,1% và tăng 2,6% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng, vận tải hàng hóa ước đạt 3.330 nghìn tấn vận chuyển và 380.020 nghìn tấn.km luân chuyển. So với cùng kỳ năm trước khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 6,5%, luân chuyển tăng 7,0%, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 3.289 nghìn tấn, tăng 6,5% và 378.774 nghìn tấn.km, tăng 7,0%. Ước tính doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.132.995 triệu đồng, tăng 9,5%, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa đường bộ 1.128.061 triệu đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 9/2017 ước tính đạt 3.191 triệu đồng, tăng 2,9% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng ước đạt 31.377 triệu đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 30.959 triệu đồng, tăng 7,9%.

3. Bưu chính viễn thông

Hoạt động bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc luôn thông suốt, an toàn và đảm bảo chất lượng. Doanh thu bưu chính viễn thông 9 tháng ước đạt 794.954 triệu đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số thuê bao điện thoại có đến tháng 9/2017 ước tính đạt 1.017.681 thuê bao, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thuê bao di động đạt 966.547 thuê bao, tăng 10,3%; thuê bao cố định đạt 51.134 thuê bao, tăng 14,7%. Số thuê bao Internet ước đạt 69.188 thuê bao (trong đó phát triển mới 12.000 thuê bao), tăng 30,3% so với cùng kỳ năm trước.

V. VỐN ĐẦU TƯ

Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 9 tháng ước tính đạt 9.011.867 triệu đồng, đạt 66,8% kế hoạch năm và tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 3.579.847 triệu đồng, tăng 18,1%; khu vực ngoài Nhà nước 5.432.020 triệu đồng, tăng 5,9%.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 1.732.324 triệu đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn trung ương quản lý đạt 200.787 triệu đồng, giảm 2,0%; vốn địa phương quản lý đạt 1.531.537 triệu đồng, tăng 18,0%, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 1.204.133 triệu đồng, tăng 14,7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 327.404 triệu đồng, tăng 31,6%.

Trong vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước, vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước 2.210.688 triệu đồng, tăng 4,8%; vốn đầu tư của dân cư 3.221.332 triệu đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo khoản mục đầu tư, vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản đạt 6.700.162 triệu đồng, tăng 9,1%; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản 1.222.615 triệu đồng, tăng 7,6%; vốn sửa chữa lớn, nâng cấp tài sản cố định 698.983 triệu đồng, tăng 33,2%; vốn bổ sung vốn lưu động 247.622 triệu đồng, tăng 11,7% và vốn đầu tư khác 142.485 triệu đồng, giảm 1,1%.

Mặc dù chịu ảnh hưởng của nhiều đợt mưa lớn kéo dài, gió lốc, lũ quét xảy ra gây ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng các công trình trên địa bàn tỉnh, song với sự chỉ đạo chặt chẽ, quyết liệt của UBND tỉnh và sự cố gắng, nỗ lực của các địa phương, các sở, ban, ngành trong quá trình tổ chức triển khai, các dự án trọng điểm được các chủ đầu tư, nhà thầu tập trung thực hiện nên tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 9 tháng tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh những tháng cuối năm tiếp tục tăng do UBND tỉnh đã tích cực huy động nguồn lực của các địa phương, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, triển khai nhiều chính sách mời gọi, thu hút đầu tư, tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2017… dự kiến một số dự án trọng điểm được khởi công mới trong trong quý IV/2017: Dự án đầu tư xây dựng trụ sở HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam Tỉnh và một số sở, ngành, đoàn thể tỉnh gắn với quảng trường Tây Bắc; dự án Kè suối Nậm La giai đoạn 2; đẩy mạnh tiến độ thực hiện dự án trung tâm thương mại Vincom shophouse, các dự án tập trung khắc phục hậu quả thiên tai tại huyện Mường La...

Bên cạnh kết quả đạt được trong quá trình thực hiện còn một số hạn chế như: Tiến độ thực hiện so với kế hoạch giao còn chậm; tỷ lệ giải ngân một số nguồn vốn thấp, vốn trái phiếu chính phủ phân bổ chậm… Để đảm bảo tiến độ các chương trình, dự án cần tiếp tục rà soát, điều chuyển vốn đối với các dự án không còn khối lượng thanh toán, không có khả năng giải ngân, chậm tiến độ thực hiện cho các dự án đã có khối lượng hoàn thành có nhu cầu vốn để thanh toán; tiếp tục chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư và xây dựng gắn với xem xét trách nhiệm quản lý của người đứng đầu; các chủ đầu tư cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình, dự án và giải ngân thanh toán các nguồn vốn được giao theo đúng kế hoạch.

VI. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

1. Thu, chi ngân sách nhà nước

Công tác thu, chi ngân sách cơ bản đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và tăng cường đối ngoại của tỉnh. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tháng 9/2017 ước tính đạt 1.293,9 tỷ đồng, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 550,0 tỷ đồng, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên đạt 729,5 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 6,0 tỷ đồng.

Tính chung 9 tháng, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 10.334,2 tỷ đồng, bằng 89,3% dự toán năm, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 2.959,1 tỷ đồng, bằng 73,1%; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên đạt 5.689,9 tỷ đồng, bằng 77,1%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 35,6 tỷ đồng, tăng 6,9 lần. Trong thu cân đối ngân sách nhà nước, có 6 khoản thu đạt 89% trở lên so với dự toán năm gồm: Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 214,8%; thu tiền sử dụng đất đạt 147,1%; thuế thu nhập cá nhân đạt 108,3%; thu khác ngân sách đạt 113,0%; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 98,6%; thu phí, lệ phí đạt 95,8%.

Thu ngân sách đã triển khai thực hiện tốt Luật thuế mới, Luật thuế được sửa đổi, bổ sung và các văn bản chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và UBND tỉnh đồng thời triển khai nhiều biện pháp kiên quyết, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc trong công tác thu, quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, thanh tra và kiểm tra thuế. Tổng số nợ thuế tính đến 31/8/2017 là 351,6 tỷ đồng, trong đó nợ khó thu 150,0 tỷ đồng; nợ có khả năng thu 201,6 tỷ đồng.

Tổng chi ngân sách nhà nước tháng 9/2017 ước tính đạt 1.321,2 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng, tổng chi ngân sách nhà nước đạt 8.548,5 tỷ đồng, bằng 73,7% dự toán năm, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ khắc phục hậu quả thiên tai, khôi phục sản xuất, đảm bảo quốc phòng, an ninh, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, trong đó: Chi đầu tư phát triển đạt 1.416,4 tỷ đồng, bằng 105,2%; chi thường xuyên đạt 6.204,9 tỷ đồng, bằng 72,5%, chi hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ, mục tiêu đạt 518,1 tỷ đồng, bằng 58,2% (trong đó chi khắc phục hậu quả thiên tai trên địa bàn huyện Mường La 130,0 tỷ đồng).

2. Thu chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng, tín dụng

Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn ổn định, thực hiện nghiêm túc các quy định về lãi suất huy động, lãi suất cho vay và các quy định về kinh doanh vàng, ngoại tệ; tăng cường công tác huy động vốn, thực hiện các giải pháp mở rộng tín dụng có hiệu quả góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh; thực hiện tốt các chính sách tín dụng về phát triển nông nghiệp nông thôn, xây dựng nông thôn mới, kinh tế tập thể, các đối tượng chính sách... Tổng thu tiền mặt qua quỹ ngân hàng 9 tháng ước thực hiện 68.773 tỷ đồng, tổng chi tiền mặt ước thực hiện 70.167 tỷ đồng, bội chi 1.394 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước tổng thu tiền mặt tăng 16,0%, tổng chi tiền mặt tăng 14,1%.

Dư nợ tín dụng ước đạt 27.600 tỷ đồng, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dư nợ ngắn hạn đạt 11.800 tỷ đồng, tăng 24,1%; dư nợ trung dài hạn đạt 15.800 tỷ đồng, tăng 18,6%. Trong tổng dư nợ, dư nợ cho vay các đối tượng chính sách đến 31/8/2017 là 3.441 tỷ đồng chiếm 12,5%, nợ xấu toàn địa bàn là 950 tỷ đồng chiếm 3,4%.

Huy động vốn tại địa phương ước đến hết tháng 9/2017 đạt 14.155 tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tiền gửi tiết kiệm 11.300 tỷ đồng, tăng 17,2%; tiền gửi các tổ chức kinh tế 2.800 tỷ đồng, tăng 3,8%; tiền gửi giấy tờ có giá 55 tỷ đồng, tăng 24,3%.

VII. XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

1. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2017 ước tính đạt 1.834,5 nghìn USD, giảm 4,9% so với tháng trước, chủ yếu ở mặt hàng xuất khẩu tơ tằm đạt 116,1 nghìn USD, giảm 26,7%; chè xuất khẩu đạt 1.709,6 nghìn USD, giảm 3,0%; lõi ngô ép và ngô giống không phát sinh; riêng xi măng đạt 8,8 nghìn USD, tăng 4,8%. Thị trường xuất khẩu chủ yếu trong tháng: Đài Loan, Pakixtan, Apganixtan, Lào, Ấn Độ.

Tính chung 9 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 6.895,0 nghìn USD, giảm 80,8% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do công ty TNHH Mỏ Niken Bản Phúc ngừng hoạt động; xuất khẩu lõi ngô ép đạt 39,4 nghìn USD, giảm 67,1%; xuất khẩu xi măng đạt 57,8 nghìn USD, giảm 13,0%. Các mặt hàng khác xuất khẩu tăng như: Tơ tằm đạt 274,4 nghìn USD, tăng 5,9 lần; chè đạt 6.407,8 nghìn USD, tăng 20,4%; ngô giống đạt 115,6 nghìn USD, tăng 8,7%. Thị trường xuất khẩu trong 9 tháng, Apganixtan là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 3.620,9 nghìn USD; tiếp đến là Đài Loan đạt 1.372,2 nghìn USD; Pakixtan đạt 567,0 nghìn USD; Ấn Độ đạt 274,4 nghìn USD; Lào đạt 173,4 nghìn USD; Nhật Bản đạt 60,0 nghìn USD; Hàn Quốc đạt 39,4 nghìn USD.

2. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 9/2017 ước tính đạt 5.230,0 nghìn USD, giảm 15,5% so với tháng trước, chủ yếu do nhập khẩu phân bón giảm 11,3%; nhập khẩu hàng hóa khác giảm 22,9%; riêng nhập khẩu cỏ Anphapha tăng 1,4%; nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 1,0%.

Tính chung 9 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 23.724,6 nghìn USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước, các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng: Cỏ Anphapha tăng 21,2%; máy móc thiết bị tăng 10,8%; phân bón tăng 7,9%; riêng hàng hóa khác giảm 2,4%.

VIII. CHỈ SỐ GIÁ

1. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2017 so với tháng trước tăng 0,64%, trong đó khu vực thành thị tăng 0,66%, khu vực nông thôn tăng 0,63%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 8 nhóm có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Giáo dục tăng 5,76% (chủ yếu do mức học phí giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp tăng cao); giao thông tăng 1,35% (chủ yếu do nhóm hàng xăng dầu tăng 3,64% theo quyết định điều chỉnh giá xăng dầu ngày 05/9 và ngày 20/9 của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, bình quân mỗi lít xăng tăng 650 đồng, dầu tăng 660 đồng); nhà ở, điện, nước, chất đốt VLVD tăng 0,49% (do một số mặt hàng vật liệu xây dựng tăng như thép, xi măng, cát, đá…); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,41% (lương thực tăng 0,08%; thực phẩm tăng 0,61%); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,33%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,17%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,04% (chủ yếu tăng ở mặt hàng hoa tươi); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,04% (tăng ở mặt hàng trang sức). Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tương đương tháng trước.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng tăng 4,13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 60,91%; các nhóm, ngành hàng hoá và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng từ 0,46% đến 8,27%; riêng 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,65%; bưu chính viễn thông giảm 0,04%.

Chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau: Thực hiện Nghị định số 153/2016/NĐ-CP ngày 14/11/2016 về việc Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động hợp đồng lao động được áp dụng từ ngày 01/01/2017; thực hiện Nghị định số 47/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang tăng 7,44%; thực hiện lộ trình tăng học phí các cấp theo Nghị định 86/2015/NĐ-CP của Chính phủ, Nghị quyết 126/2015/NQ-HĐND và Nghị quyết 51/2017/NQ-HĐND của HĐND tỉnh; thực hiện việc tăng giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo Quyết định số 6188/BYT-KH-TC của Bộ Y tế và Nghị quyết số 54/2017/NQ-HĐND ngày 21/7/2017 của HĐND tỉnh; giá xăng, dầu được điều chỉnh tăng mạnh 09 lần và giảm 06 lần làm chỉ số giá xăng dầu bình quân 9 tháng tăng cao.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2017 tăng 1,77% so với tháng 12/2016 và tăng 0,62% so với cùng kỳ năm trước.

Dự báo tháng 10/2017 giá cả thị trường tăng nhẹ.

2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 9/2017 tăng 0,96% so với tháng trước, tăng 1,77% so với tháng 12/2016 và tăng 0,62% so với cùng kỳ năm trước, giá vàng 99,99% bán ra bình quân trong tháng là 3.677.000 đồng/chỉ.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2017 giảm 0,01% so với tháng trước, tăng 0,19% so với tháng 12/2016 và tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước.

IX. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

9 tháng năm 2017 đời sống công chức, viên chức và người hưởng bảo hiểm xã hội ổn định, thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động khu vực nhà nước 4.100 nghìn đồng, khu vực doanh nghiệp nhà nước 4.000 nghìn đồng, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.886 nghìn đồng và doanh nghiệp ngoài Nhà nước 3.402 nghìn đồng.

Đời sống dân cư nông thôn được cải thiện nhưng thiếu bền vững, tình trạng đói giáp hạt vẫn xảy ra tại các huyện Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Mường La, Bắc Yên, Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Sốp Cộp; các hộ đói chủ yếu do thiếu gạo, không có đói gay gắt; các huyện đã hỗ trợ 207,4 tấn gạo để cứu đói.

Toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống người có công, gia đình thương binh, liệt sĩ; quan tâm đầu tư cho dân cư các huyện nghèo, huy động các nguồn vốn cho vay phát triển sản xuất, hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo có điều kiện tham gia học tập... nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, cụ thể: Đã cấp 765.365 thẻ BHYT cho người nghèo và người dân tộc thiểu số, người sống ở vùng đặc biệt khó khăn; 168.835 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi. Ngân hàng chính sách xã hội đã thực hiện các chương trình cho vay đối với 22.949 lượt hộ với tổng số tiền 636.640 triệu đồng. Hỗ trợ 17.837 triệu đồng cho người dân tộc thuộc hộ nghèo theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg; cấp 445.722 tờ báo và cuốn tạp chí cho đồng bào vùng dân tộc, miền núi theo Quyết định 2472/2011/QĐ-TTg và Quyết định 1977/2013/QĐ-TTg; tổ chức 08 lớp tập huấn cho 376 người tham gia với nội dung tuyên truyền về luật phòng chống ma túy, luật hôn nhân và gia đình, luật giao thông... theo Quyết định 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Hỗ trợ 4.938,2 tấn gạo cho học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn; 1.415 triệu đồng cho học sinh phải qua sông hồ để đi học; 570,7 tấn gạo cứu đói trong dịp Tết Nguyên đán. Trao tặng 53.462 suất quà trị giá 18.140 triệu đồng, 190 sổ tiết kiệm trị giá 408 triệu đồng, xây dựng 01 nhà tình nghĩa và giúp đỡ 14.201 ngày công lao động cho các đối tượng chính sách, người có công nhân dịp Tết cổ truyền và kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ. Thực hiện chế độ chính sách đối với 26.593 đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, 149 đối tượng được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong và ngoài tỉnh đã tổ chức khám bệnh miễn phí, hỗ trợ xây dựng trường học, nhà bán trú, trang thiết bị nấu ăn, xây dựng nhà đại đoàn kết, trao tặng bò, hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hộ bị ảnh hưởng do thiệt hại thiên tai... với tổng giá trị hơn 143,2 tỷ đồng và 1,6 tấn gạo.

Công tác dạy nghề đã đào tạo cho 6.736 học viên; tư vấn chính sách lao động, học nghề, việc làm cho hơn 6.510 lượt người, cung ứng lao động cho 1.635 người, thông tin thị trường lao động cho 188.107 người, cung cấp thông tin việc tìm người lên Website cho 109 doanh nghiệp và người tìm việc cho 436 người. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh có 28.574 người đã đi làm ăn xa tại các đơn vị, doanh nghiệp… trong và ngoài tỉnh; 704 người được nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, 32 người nhận quyết định hủy, chấm dứt hoặc tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp... Đến thời điểm hiện tại đã có 10 lao động tham gia xuất khẩu sang các thị trường lao động nước ngoài (Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia).

Theo kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020, số hộ nghèo năm 2016 trên địa bàn tỉnh Sơn La chiếm 31,91%, trong đó thành thị chiếm 3,98%, nông thôn 37,11%; hộ cận nghèo chiếm 10,92%.

Thực hiện chương trình nông thôn mới trên địa bàn tỉnh có 188/188 xã, trong đó 09 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 04 xã đạt 15-18 tiêu chí; 27 xã đạt từ 10-14 tiêu chí; 135 xã đạt từ 5-9 tiêu chí; 13 xã đạt dưới 5 tiêu chí.

2. Giáo dục và đào tạo

Trong 9 tháng ngành Giáo dục đã tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kết thúc các nhiệm vụ năm học 2016 - 2017; tổ chức thành công các cuộc thi giáo viên dạy giỏi tiểu học, giáo viên làm tổng phụ trách Đội giỏi cấp tỉnh, thi dạy học theo chủ đề tích hợp cho giáo viên trung học; thi học sinh giỏi cấp tỉnh cho học sinh tiểu học, THCS, THPT; Hội thao Quốc phòng - An ninh cho học sinh THPT; thi THPT Quốc gia năm 2017 (toàn tỉnh có 8.757 thí sinh tốt nghiệp/8.972 thí sinh dự thi, đạt 97,6%); thi cấp chứng chỉ nghề phổ thông năm học 2016 - 2017 cho các trường THPT, các trường PTDTNT. Tham gia các kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia như: Thi học sinh giỏi lớp 12; thi Khoa học - Kỹ thuật; thi giải Toán, Vật lý qua mạng Internet; thi Olympic tiếng Anh trực tuyến; tham dự giao lưu "An toàn giao thông cho nụ cười trẻ thơ" dành cho giáo viên và học sinh tiểu học; cuộc thi "An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai" dành cho giáo viên và học sinh THPT; "Giao thông học đường"...

Năm học 2016 - 2017 trên địa bàn tỉnh có 230 trường/122 xã có tổ chức nấu ăn tập trung bán trú cho học sinh, bao gồm: 103 trường tiểu học, 118 trường THCS, 09 trường THPT; số học sinh được hưởng chế độ bán trú là 43.544 em, trong đó tiểu học 15.232 em, THCS 20.203 em, THPT 8.109 em.

Kết thúc năm học 2016 - 2017 toàn tỉnh có 1.922 học sinh bỏ học; 49.999 học sinh phổ thông và giáo dục thường xuyên hoàn thành cấp học, trong đó: tiểu học 24.062 học sinh, trung học cơ sở 17.179 học sinh; trung học phổ thông 7.612 học sinh, bổ túc trung học phổ thông 1.146 người.

Triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2017 - 2018, tập trung cho công tác khai giảng. Toàn tỉnh dự kiến huy động 358.500 học sinh các cấp mầm non, phổ thông và bổ túc đến trường, bao gồm: 100.384 trẻ trong độ tuổi đi học mầm non; 253.422 học sinh vào học phổ thông; 4.694 học sinh vào học bổ túc. Các trường Đại học, Cao đẳng, Cao đẳng nghề và Trung cấp chuyên nghiệp dự kiến tuyển mới 7.525 sinh viên, trong đó: Hệ đại học chính quy 2.380 sinh viên; hệ cao đẳng 2.165 sinh viên; hệ trung cấp 2.200 sinh viên; còn lại là các hình thức đào tạo khác.

Phục vụ cho năm học 2017 - 2018, công ty cổ phần Sách và thiết bị trường học đã nhập về 1.400.413 bản sách các loại, đảm bảo đủ nhu cầu sách cho giáo viên và học sinh các cấp học trong toàn tỉnh.

Tổ chức thành công kỳ thi chọn đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia THPT (đợt 1) năm học 2017 - 2018, kết quả: 93 em được chọn vào đội tuyển.

3. Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Ngành y tế tiếp tục triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh, phát hiện sớm, khống chế kịp thời các bệnh dịch, đặc biệt là dịch sốt xuất huyết, sởi, cúm gia cầm, cúm A(H7N9), tiêu chảy cấp, tay chân miệng... 9 tháng năm 2017 trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ dịch với tổng số 470 trường hợp mắc và tử vong 08 trường hợp (Trong đó: 04 ca mắc dại và tử vong; 06 ca mắc uốn ván sơ sinh, 04 ca tử vong; 105 ca mắc quai bị; 15 ca mắc đau mắt đỏ; 340 ca mắc cúm mùa); 387 người nhiễm HIV, 61 trường hợp tử vong do AIDS; 971 trường hợp ngộ độc thức ăn (mắc theo vụ 05 với 97 trường hợp), không có tử vong.

Chỉ đạo các đơn vị thực hiện tốt công tác thường trực cấp cứu, khám chữa bệnh cho nhân dân: Tổng số lần khám bệnh tại các sở y tế từ đầu năm đến nay là 1.096.806 lần; số bệnh nhân điều trị nội trú 143.889 người, điều trị ngoại trú (gồm cả kê đơn) 641.180 người; tổng số bệnh nhân chuyển tuyến 74.176 người, trong đó chuyển về Trung ương 4.435 người.

Đảm bảo y tế đối với nhân dân vùng thiệt hại do thiên tai. Tiếp tục tổ chức triển khai có hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế về lĩnh vực y tế.

4. Văn hóa, thông tin, thể thao

Hoạt động văn hóa, thông tin từ đầu năm đến nay tập trung tổ chức tốt công tác thông tin tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị, các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước và của tỉnh; tuyên truyền cho thành công của Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Sơn La năm 2017...

Trong 9 tháng, phục vụ chiếu phim đạt 3.819 buổi, 787.800 lượt người xem; phát hành 260 bản tài liệu, tổ chức 26 buổi biểu diễn tuyên truyền với 15.000 lượt người xem; tổ chức các cuộc giáo dục tuyên truyền tại di tích lịch sử Nhà tù Sơn La; phục vụ 355.410 lượt khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh và các điểm di tích.

Tổ chức thành công các lễ hội, chương trình nghệ thuật, triển lãm và các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, của tỉnh như: Chương trình nghệ thuật "Sơn La bản tình ca mùa xuân"; Lễ hội đua thuyền truyền thống tại huyện Quỳnh Nhai; trưng bày triển lãm chủ đề "Triều đại Nhà Lê trong công cuộc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Quốc gia"; chương trình nghệ thuật "Đất nước trọn niềm vui"; Lễ hội Hoa ban dân tộc Thái huyện Vân Hồ; Lễ hội trà tại huyện Mộc Châu; Ngày hội xoài tại huyện Yên Châu; Ngày hội nhãn tại huyện Sông Mã; Hội diễn Nghệ thuật quần chúng tỉnh Sơn La năm 2017 tại huyện Quỳnh Nhai; chương trình nghệ thuật "Niềm vui gia đình" hưởng ứng ngày gia đình Việt Nam; Lễ tri ân tại Di tích lịch sử Ngã ba Cò Nòi; Lễ tri ân người có công với cách mạng vùng Tây Bắc (phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Bắc) nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; tổ chức thành công Lễ đúc Bảo tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại huyện Thuận Châu.

Tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Sơn La năm 2017; các nội dung hoạt động trong "Năm đoàn kết hữu nghị Việt - Lào"; Chương trình nghệ thuật "Thắm tình hữu nghị Việt - Lào"; triển lãm ảnh "Thành tựu hợp tác phát triển Việt Nam - Lào"; Hội chợ triển lãm thương mại và du lịch Việt Nam - Lào 2017; khánh thành khu di tích lịch sử cách mạng Việt Nam - Lào…

Thể thao quần chúng: Tiếp tục duy trì và đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" với nhiệm vụ trọng tâm là tổ chức "Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2017". Tham mưu, chỉ đạo các huyện, thành phố tổ chức Đại hội thể dục thể thao các cấp tiến tới Đại hội thể dục thể thao toàn tỉnh năm 2018. Tổ chức thành công ngày hội giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch Việt - Lào năm 2017. Tổ chức thành công các giải thể thao như: Quần vợt, điền kinh, kéo co, đẩy gậy... thu hút lượng lớn các vận động viên tham gia.

Thể thao thành tích cao được duy trì, củng cố và phát triển các đội tuyển tỉnh (35 VĐV), đội tuyển trẻ (51 VĐV) và đội tuyển năng khiếu (28 VĐV) tại Trung tâm đào tạo và huấn luyện VĐV thể thao tỉnh. Tham gia thi đấu và đạt được nhiều thành tích tại các giải thể thao cấp toàn quốc và khu vực: 21 HCV, 15 HCB, 38 HCĐ.

Phát thanh tiếng phổ thông 833 chương trình, sử dụng 5.963 tin, bài, phóng sự, 988 chuyên đề, chuyên mục. Tiếng dân tộc 1.092 chương trình, sử dụng 6.368 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt, 972 chuyên đề, chuyên mục.

Truyền hình tiếng phổ thông thực hiện 2.474 chương trình, sử dụng 1.904 lượt chuyên đề, chuyên mục, 1.904 tin, bài, phản ánh, phỏng vấn, phóng sự, gương người tốt, việc tốt, 273 trang truyền hình cơ sở. Tiếng dân tộc thực hiện 619 chương trình, sử dụng 5.250 tin, bài phóng sự, 455 lượt chuyên đề, chuyên mục. Cộng tác với VTV thực hiện 81 chương trình.

5. Công tác phòng chống ma tuý

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo 2968 đến ngày 15/9/2017 toàn tỉnh có 8.599 người nghiện ma tuý đang trong diện quản lý, trong đó có 1.652 người đang cai nghiện tập trung tại các Trung tâm giáo dục lao động, 65 người đang quản lý tại cơ sở quản lý sau cai, 1.351 người đang điều trị bằng Methadone. Hiện trên địa bàn tỉnh còn 12 điểm, 56 đối tượng có biểu hiện bán lẻ, chứa chấp, tổ chức sử dụng ma túy ở 31 tổ, bản thuộc 18 xã, thị trấn.

6. An toàn giao thông

Năm 2017 toàn tỉnh quyết tâm phấn đấu kéo giảm tối thiểu 5% cả 3 tiêu chí (số vụ, số người chết và số người bị thương) về tai nạn giao thông; tiếp tục củng cố, kiện toàn và đẩy mạnh hoạt động có hiệu quả của Ban ATGT các cấp, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc trong công tác bảo đảm TTATGT; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo đảm TTATGT; đồng thời tăng cường lực lượng để thực hiện công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm minh các vi phạm về TTATGT.

Trong tháng 9 trên địa bàn xảy ra 13 vụ tai nạn, va chạm giao thông làm chết 10 người và bị thương 10 người. Lũy kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh xảy ra 101 vụ tai nạn, va chạm giao thông làm chết 55 người và bị thương 95 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 09 vụ, số người chết giảm 14 người, số người bị thương giảm 01 người.

7. Thiệt hại do thiên tai

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra mưa đá, gió lốc, lũ quét gây thiệt hại về người và tài sản, sản xuất của nhân dân, cụ thể: 19 người chết, 02 người mất tích; 23 người bị thương; 787 ha mạ thiệt hại; 1.080 ha hoa màu bị hư hỏng; 24.222 con gia súc, gia cầm (trâu, bò 346 con; dê 751 con; lợn 1.534 con; gia cầm 21.591 con), 93 ha thuỷ sản bị thiệt hại; 3.275 nhà ở bị sập đổ, cuốn trôi; 40 trường, điểm trường, trụ sở cơ quan, 02 công trình hồ chứa, 73 phai đập bị thiệt hại; 20.623 m kè, kênh mương bị vùi lấp, sạt lở cuốn trôi; 67,6 km đường sạt lở, hư hỏng; 6,8 km bị ngập; 315.951 m3 sạt lở sa bồi; 281 cầu, cống bị cuốn trôi, hư hỏng; 413 cột điện bị sạt lở, nghiêng, gãy đổ; 68.316 m đường dây điện bị đứt… Ước tính thiệt hại 1.563.253 triệu đồng.

Công tác khắc phục hậu quả: Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ ngành từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức, cá nhân, các nhà hảo tâm đã kịp thời đến thăm hỏi, động viên và trao quà hỗ trợ nhu yếu phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho các hộ bị thiên tai; hỗ trợ trực tiếp bằng tiền cho những hộ có người chết, mất tích và bị thương; chỉ đạo công tác tìm kiếm cứu nạn. Đến nay đã hỗ trợ và tiếp nhận trên 57.959 triệu đồng; 130 tấn gạo; 16.555 thùng mỳ tôm; 4.000 bao quần áo; 6.548 kg muối; 1.300 bộ bát và nhiều vật dụng khác…

Khắc phục xong 02 đầu cầu Nặm Păm đảm bảo giao thông đi lại và vận chuyển hàng cứu trợ, thi công đắp nền đường hơn 07 km; kè rọ thép khu dân cư thị trấn Ít Ong 3.780 m3; khắc phục hệ thống điện, công trình thủy lợi, nước sinh hoạt bị thiệt hại; hỗ trợ 315 hộ gia đình có nhà bị hư hỏng hoàn toàn, hư hỏng nặng phải di chuyển; bố trí các điểm tái định cư, sắp xếp chỗ ở cho 353 hộ và triển khai làm nhà lắp ghép (đã san 180 nền nhà và hoàn thành 55 nhà); lắp dựng xong nhà tiền chế y tế 64 m2; làm nhà tạm, dọn, hót bùn, vệ sinh 15 điểm trường bị thiệt hại để kịp thời khai giảng năm học mới; hỗ trợ 6.293 triệu đồng cho các hộ để trồng các loại cây ăn quả và 4.715 triệu đồng khôi phục sản xuất chăn nuôi.

8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng cơ quan chức năng đã phát hiện, xử lý 52 vụ với 52 đối tượng vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, khai thác cát trái phép, vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã phát hiện, xử lý 350 vụ với 361 đối tượng vi phạm các quy định trên.

Trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, nổ làm thiệt hại ước tính 400 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 29 vụ cháy, nổ làm 02 người chết và thiệt hại ước tính 4.319 triệu đồng.

Khái quát lại: Kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2017 đã có chuyển biến theo hướng tích cực, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản được duy trì ổn định; chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng hơn năm trước, tiêu thụ sản phẩm thuận lợi; hệ thống kết cấu hạ tầng tiếp tục được cải thiện; thị trường hàng hoá phát triển, cân đối cung cầu và lưu thông hàng hoá thông suốt; đời sống các tầng lớp dân cư ổn định; công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện; các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên nền kinh tế của tỉnh vẫn còn những hạn chế: Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng, thiệt hại của thiên tai, thời tiết diễn biến phức tạp, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; chỉ số sản xuất công nghiệp giảm mạnh ở ngành khai khoáng kéo theo kim ngạch xuất khẩu giảm; tiến độ giải ngân vốn đầu tư còn chậm, chính sách thu hút đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư, việc huy động các nguồn vốn đầu tư xã hội hóa còn hạn chế; đời sống nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới và vùng tái định cư còn gặp nhiều khó khăn nhất là trong việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi và đất sản xuất.

Để thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, nhiệm vụ trọng tâm trong những tháng cuối năm là rất lớn, đòi hỏi các ngành, các cấp, các huyện, thành phố cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về những nhiệm vụ, pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017; đẩy mạnh các giải pháp về điều hành chính sách tiền tệ giữ ổn định kinh tế vĩ mô; tăng cường và thực hiện có hiệu quả các biện pháp chống thất thu, giảm nợ đọng thuế; quản lý hiệu quả chi tiêu công, triệt để tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng ngân sách, tài sản công; thực hiện tốt kế hoạch đầu tư công năm 2017, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn kịp thời các chủ đầu tư, ban quản lý dự án xử lý khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư; tăng cường các giải pháp thu hút đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh triển khai các chương trình, dự án trọng điểm của tỉnh; làm tốt công tác xã hội hóa, huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới và thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, các chương trình cho vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững để từng bước nâng cao đời sống cho nhân dân trên địa bàn./.

Cục Thống kê tỉnh Sơn La


THÔNG TIN CẢI CÁCH


THỐNG KÊ TRUY CẬP

Tổng số lượt truy cập: 46057965
Số người đang truy cập: 69