Số liệu thống kê

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2018
Tue, 05/06/2018 15:00 | GMT +7
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2018

I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

a) Trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây trồng vụ đông xuân. Tính đến ngày 15/5, toàn tỉnh đã kết thúc gieo cấy lúa đông xuân với diện tích đạt 11.907 ha, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do diện tích bị mưa lũ cuốn trôi năm 2017, đến nay chưa khắc phục được. Một số huyện có diện tích giảm nhiều: Huyện Phù Yên giảm 172 ha, Mường La giảm 30 ha, Quỳnh Nhai giảm 18 ha, Mộc Châu giảm 12 ha. Ước tính sơ bộ, năng suất lúa đông xuân năm nay đạt 58,13 tạ/ha, tăng 0,37 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước, do thời tiết thuận lợi; sản lượng ước tính đạt 69.218 tấn, giảm 454 tấn, do diện tích giảm nhiều hơn năng suất tăng.

Tính đến thời điểm trên, toàn tỉnh đã gieo trồng được 5.590 ha lúa nương, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước; 1.395 ha ngô, tăng 28,9%; 25.647 ha sắn, giảm 2,7%; 8.851 ha mía, tăng 10,1%; 5.034 ha rau các loại, tăng 4,5%; 3.280 ha dong giềng, giảm 7,8%; 655 ha lạc tăng 24,3%; 234 ha đậu các loại, tăng 1,3%. Đã thu hoạch được 3.359 tấn ngô, tăng 18,3%; 529.842 tấn mía, tăng 26,6%; 56.744 tấn rau các loại, tăng 5,6%; 238 tấn khoai lang, tăng 197,5%; 212 tấn đậu các loại, tăng 21,8%; 108 tấn lạc, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước.

Diện tích cây lâu năm tiếp tục phát triển với diện tích hiện có 37.371 ha cây ăn quả, tăng 48,9% so với cùng kỳ năm 2017; 28.271 ha cây lấy sản phẩm chủ yếu cho công nghiệp chế biến, tăng 1,7%, trong đó chè 4.522 ha, tăng 5,2%; cao su 6.039 ha, giảm 2,7%; cà phê 17.710 ha, tăng 2,5%. Diện tích cây ăn quả tăng chủ yếu do có chính sách đầu tư hỗ trợ phát triển của tỉnh, tính chung 5 tháng đầu năm đã trồng mới 1.701 ha cây ăn quả trên đất dốc và 901 ha cây ghép lai cho năng suất và chất lượng cao, nâng tổng diện tích cây ăn quả trồng trên đất dốc lên 20.731 ha (trồng trên đất trồng lúa nương 646 ha, đất trồng ngô 19.733 ha, đất trồng sắn 159 ha, đất trồng cà phê 193 ha) và diện tích cây lâu năm ghép lai lên 9.117 ha (trong đó diện tích cho sản phẩm 3.311 ha); diện tích cây trồng đạt tiêu chuẩn VietGap hiện có 248 ha chè, 186 ha rau các loại, 121 ha nhãn, 26 ha xoài, 20 ha na, 17 ha cam, 08 ha chanh leo, 05 ha mận, 05 ha thanh long, 05 ha dâu tây và 02 ha bưởi.

Tính chung 5 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã thu hoạch được 9.827 tấn chuối, giảm 9,8% so với cùng kỳ năm trước; 5.497 tấn mận, tăng 5,0%; 1.357 tấn cam, tăng 107,8%; 526 tấn bưởi, tăng 22,9%; 140 tấn chanh leo, cùng kỳ năm 2017 không phát sinh; 5.449 tấn chè, tăng 11,1%; 64 tấn cao su, tăng 146,2%.

Trong tháng 5, trên địa bàn tỉnh xuất hiện dịch bệnh đối với cây trồng làm 454 ha lúa, 89 ha cây ăn quả, 37 ha cà phê, 34 ha chè bị bệnh, tuy nhiên không có diện tích mất trắng, dự ước giá trị thiệt hại 429 triệu đồng.

b) Chăn nuôi

Chăn nuôi gia súc, gia cầm ổn định, không xảy ra dịch bệnh. Đàn trâu toàn tỉnh đến tháng 5 ước tính 142.303 con, giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 295.701 con, tăng 8,5%; đàn lợn 607.568 con, tăng 0,3%; đàn gia cầm 6.484 nghìn con, tăng 1,6%.

Sản lượng sản phẩm thịt trâu hơi xuất chuồng trong tháng ước đạt 359 tấn, thịt bò 580 tấn, thịt lợn 4.265 tấn, thịt gia cầm 1.008 tấn, sản lượng sữa tươi 7.282 tấn, trứng gia cầm 4.710 nghìn quả. Tính chung 5 tháng đầu năm, sản lượng sản phẩm thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 2.053 tấn, tăng 1,7%; thịt bò 2.480 tấn, tăng 2,9%; thịt lợn 19.307 tấn, tăng 2,3%; thịt gia cầm 4.750 tấn, tăng 1,5%; sản lượng sữa tươi 36.227 tấn, tăng 11,8%; trứng gia cầm 25.954 nghìn quả, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước.

Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm tính chung 5 tháng được 345 liều vắc xin THT trâu, bò; 189.667 liều vắc xin lở mồm long móng; 4.400 liều vắc xin Niu cát xơn và 108.885 liều vắc xin dại chó. Công tác kiểm dịch xuất và nhập gia súc, gia cầm đuợc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo kịp thời phát hiện và xử lý nhanh các trường hợp mắc bệnh, tránh dịch bệnh lây lan ra diện rộng.

2. Lâm nghiệp

Theo báo cáo của Chi cục Kiểm Lâm, toàn tỉnh đã ươm được 7.540 nghìn cây giống các loại và chuẩn bị địa bàn trồng rừng thiết kế được 2.129 ha, đạt 60,8% kế hoạch giao. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 5 ước tính đạt 2.366 m3, giảm 31,5%; củi khai thác ước đạt 97.770 ste, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 12.261 m3, giảm 12,4%; củi khai thác đạt 503.110 ste, giảm 0,8% so với cùng kỳ.

Mặc dù công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện nhưng trong tháng các vụ vi phạm lâm luật vẫn xảy ra với tổng số 43 vụ, số tiền phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 720 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 155 vụ vi phạm lâm luật với số tiền phạt vi phạm hành chính 1.466 triệu đồng, trong đó cháy rừng 01 vụ với diện tích rừng thiệt hại 04 ha; chặt phá rừng 43 vụ với diện tích 04 ha; so với cùng kỳ năm trước số vụ vi phạm lâm luật giảm 43,6%, số tiền phạt vi phạm hành chính tăng 22,0%.

3. Thuỷ sản

Tính đến tháng 5/2018, diện tích nuôi trồng thuỷ sản toàn tỉnh đạt 2.705 ha, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó diện tích nuôi cá 2.672 ha, giảm 0,1%. Số lồng bè nuôi trồng thủy sản đạt 9.048 chiếc, tăng 2,2 lần với thể tích đạt 763.220 m3, tăng 2,1 lần.

Trong tháng 5, sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 558 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng 481 tấn, khai thác 77 tấn. Tính chung 5 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt 3.272 tấn, tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng 2.831 tấn, tăng 11,0%; khai thác 441 tấn, tăng 4,0%.

Sản lượng giống thủy sản tính đến tháng 5 đạt 47,2 triệu con, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 5 ước tính giảm 2,7% so với tháng trước và giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước (chủ yếu do sản lượng đường kính và điện sản xuất giảm), trong đó ngành khai khoáng giảm 4,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,8%; sản xuất và phân phối điện giảm 3,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,1% so với cùng kỳ.

Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 3,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 13,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,4%. Sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm tăng chủ yếu do một số sản phẩm có số lượng lớn, chiếm tỷ trọng cao sản xuất tăng mạnh như các sản phẩm sữa, đường, xi măng và điện sản xuất.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 5 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: In, sao chép bản ghi các loại tăng 26,3%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 13,8%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 13,1%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 0,5%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 1,1%; khai khoáng khác giảm 6,2%; dệt giảm 10,0%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 20,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 26,5%; sản xuất đồ uống giảm 32,8%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 40,3%.

Trong 5 tháng đầu năm, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Mật đường tăng 98,4%; sản phẩm in khác và đường chưa luyện cùng tăng 26,2%; điện sản xuất tăng 13,7% (trong đó: Thuỷ điện Sơn La tăng 10,4%, thuỷ điện Huội Quảng tăng 14,2%); xi măng tăng 13,1%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác tăng 6,0%; chè nguyên chất tăng 3,5%; sữa chua, sữa và kem lên men hoặc axít hoá tăng 3,3%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 0,5%; nước uống được giảm 1,1%; điện thương phẩm giảm 2,1%; đá xây dựng các loại giảm 3,1%; phân vi sinh giảm 12,5%; bia hơi giảm 23,0%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 23,4%; nước tinh khiết giảm 28,9%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5 ước tính tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 4,7 lần; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 139,2%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 23,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,5%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 2,9%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 19,0%; sản xuất đồ uống giảm 31,9%; dệt giảm 74,9%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5 tăng 61,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 59,4%; sản xuất giường tủ, bàn ghế tăng 39,7%; dệt giảm 10,4%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,3 lần; in, sao chép bản ghi các loại tăng 4,3 lần; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 70,2%.

III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng 5 toàn tỉnh có 22 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 20,0% so với cùng kỳ năm trước với số vốn đăng ký 55,8 tỷ đồng, giảm 49,5%; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 2,5 tỷ đồng, giảm 77,0%; 02 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh, giảm 33,3%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, toàn tỉnh có 114 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.223,7 tỷ đồng, tăng 102,7% về số doanh nghiệp và tăng 181,5% số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,7 tỷ đồng, tăng 176,8%. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động là 35 doanh nghiệp, tăng 152,2%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 12 doanh nghiệp, tăng 150,0% so với cùng kỳ.

IV. HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ

1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa

Là tháng có kỳ nghỉ lễ 30/4 và 01/5 kéo dài 04 ngày đã thu hút khối lượng khách du lịch đến Sơn La, tác động đến sức mua hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn. Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 5 ước tính đạt 1.597.245 triệu đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm ngành hàng so với cùng kỳ năm trước đều tăng, trong đó tăng cao nhất là nhóm lương thực, thực phẩm và nhóm xăng dầu các loại cùng tăng 11,5%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 11,0%; ô tô các loại tăng 10,7%; các nhóm ngành hàng khác tăng từ 7,3% đến 9,7%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 7.892.957 triệu đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 10,8%; xăng dầu các loại tăng 10,6%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 10,5%; các nhóm ngành hàng khác tăng từ 6,9% đến 9,7%.

2. Doanh thu hoạt động dịch vụ

Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 5 ước tính đạt 454.941 triệu đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 17.269 triệu đồng, giảm 0,5% và tăng 3,3%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 146.562 triệu đồng, tăng 1,0% và tăng 7,0%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 1.430 triệu đồng, tăng 37,4% và giảm 2,4%; doanh thu dịch vụ khác đạt 289.680 triệu đồng, tăng 1,4% và tăng 7,5%.

Tính chung 5 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ ước đạt 2.193.836 triệu đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú tăng 9,1%; dịch vụ ăn uống tăng 8,5%; dịch vụ khác tăng 6,2%; riêng du lịch lữ hành giảm 43,8%.

3. Vận tải hành khách và hàng hoá

Vận tải hành khách tháng 5 ước tính đạt 306 nghìn lượt khách và 31.074 nghìn lượt khách.km, so với tháng trước tăng 1,1% và tăng 1,5%, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,2% và tăng 7,1%. Tính chung 5 tháng đầu năm, vận tải hành khách ước đạt 1.522 nghìn lượt khách, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước và 148.018 nghìn lượt khách.km, tăng 7,5%, trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 1.398 nghìn lượt khách, tăng 6,8% và 146.717 nghìn lượt khách.km, tăng 7,5%.

Doanh thu vận tải hành khách tháng 5 ước tính đạt 29.212 triệu đồng, tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 139.593 triệu đồng, tăng 9,4%, trong đó doanh thu vận tải hành khách đường bộ 135.327 triệu đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hóa tháng 5 ước tính đạt 408 nghìn tấn và 49.104 nghìn tấn.km, so với tháng trước tăng 1,6% và tăng 2,2%, so với cùng kỳ năm trước tăng 8,4% và tăng 10,9%. Tính chung 5 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.982 nghìn tấn, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước và 229.898 nghìn tấn.km, tăng 8,6%, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 1.958 nghìn tấn, tăng 7,4% và 229.267 nghìn tấn.km, tăng 8,6%.

Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 5 ước tính đạt 143.990 triệu đồng, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 686.772 triệu đồng, tăng 9,6%, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa đường bộ 683.704 triệu đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2017.

Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 5 ước tính đạt 4.250 triệu đồng, tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 19.806 triệu đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bốc xếp hàng hóa đạt 141 triệu đồng, giảm 97,2%; doanh thu hoạt động khác 19.665 triệu đồng, tăng 51,1%.

V. VỐN ĐẦU TƯ

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý tháng 5 ước tính đạt 222.083 triệu đồng, bằng 7,9% kế hoạch năm và tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 162.741 triệu đồng, bằng 7,6% và tăng 12,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 59.342 triệu đồng, bằng 9,1% và tăng 66,3%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 960.866 triệu đồng, bằng 34,3% kế hoạch năm và tăng 17,0% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 717.444 triệu đồng, bằng 33,4% và tăng 10,0%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 243.422 triệu đồng, bằng 37,2% và tăng 43,8%.

Trong tháng 5 các chủ đầu tư và đơn vị thi công đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tăng cao so với cùng kỳ năm trước tuy nhiên tình hình giải ngân và thực hiện nguồn vốn này trong 5 tháng đầu năm so với kế hoạch giao còn chậm, một số dự án đã được phân bổ vốn nhưng chưa triển khai thực hiện được do còn vướng mắc trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng... UBND tỉnh, các huyện, thành phố và các chủ đầu tư cần tiếp tục chỉ đạo chặt chẽ, quyết liệt, tăng cường rà soát, kiểm tra, đôn đốc các nhà thầu tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện, bảo đảm kế hoạch đề ra; tăng cường công tác tuyên truyền, vận động di dời và thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đúng quy định, kịp thời tháo gỡ khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng.

Dự tính vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước các tháng tiếp theo tiếp tục tăng khá.

VI. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

1. Thu, chi ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tháng 5 ước tính đạt 1.142,8 tỷ đồng, giảm 53,4% so với tháng trước và tăng 76,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 463,8 tỷ đồng, giảm 73,8% và giảm 13,8%; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 679,0 tỷ đồng, tương đương tháng trước và tăng 5,2 lần.

Tính chung 5 tháng đầu năm, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước tính đạt 7.744,0 tỷ đồng, bằng 58,0% so với dự toán năm và tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 4.333,2 tỷ đồng, bằng 94,5% và tăng 61,7%; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 3.410,8 tỷ đồng, bằng 38,9% và giảm 6,1%. Trong thu cân đối ngân sách nhà nước, thu nội địa ước đạt 1.673,2 tỷ đồng, bằng 37,6% và tăng 41,4%; thu hải quan ước đạt 20,2 tỷ đồng, bằng 56,2% và giảm 31,9%.

Tổng chi ngân sách nhà nước tháng 5 ước tính đạt 869,8 tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 4.310,8 tỷ đồng, bằng 32,9% dự toán năm và tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Chi thường xuyên đạt 3.244,5 tỷ đồng, bằng 36,2% và tăng 10,2%; chi đầu tư phát triển đạt 593,9 tỷ đồng, bằng 38,5% và giảm 15,2%; chi chương trình mục tiêu quốc gia, hỗ trợ mục tiêu đạt 429,4 tỷ đồng, bằng 20,7% và tăng 31,5%.

2. Thu chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng, tín dụng

Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn ổn định, tổng thu tiền mặt qua quỹ ngân hàng 5 tháng đầu năm ước thực hiện 40.269 tỷ đồng, tổng chi tiền mặt ước thực hiện 39.746 tỷ đồng, bội thu 523 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước tổng thu tiền mặt tăng 7,4%, tổng chi tiền mặt tăng 5,0%.

Dư nợ tín dụng ước đạt 30.100 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dư nợ ngắn hạn đạt 13.200 tỷ đồng, tăng 19,2%; dư nợ trung dài hạn đạt 16.900 tỷ đồng, tăng 13,4%. Trong tổng dư nợ, dư nợ cho vay các đối tượng chính sách đến 30/4/2018 là 3.767 tỷ đồng, chiếm 12,5%; nợ xấu toàn địa bàn là 395 tỷ đồng, chiếm 1,3%.

Huy động vốn tại địa phương ước đến hết tháng 5 đạt 16.000 tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tiền gửi tiết kiệm 12.800 tỷ đồng, tăng 16,5%; tiền gửi các tổ chức kinh tế 3.100 tỷ đồng, tăng 16,2%; tiền gửi giấy tờ có giá 100 tỷ đồng, tăng 88,9%.

VII. XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

1. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 5 ước tính đạt 309,0 nghìn USD, giảm 50,4% so với tháng trước và giảm ở hầu hết các mặt hàng xuất khẩu, trong đó: Xuất khẩu chè đạt 288,4 nghìn USD, giảm 39,6%; xuất khẩu xi măng đạt 20,6 nghìn USD, giảm 19,8%; xuất khẩu lõi ngô ép và ngô giống trong tháng không phát sinh. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 5 giảm 65,6%, chủ yếu do xuất khẩu chè giảm 67,3% (mặt hàng này chiếm tỷ trọng lớn với 93,3% trong kim ngạch xuất khẩu); bên cạnh đó xuất khẩu xi măng tăng 121,9%. Thị trường xuất khẩu chủ yếu trong tháng: Apganixtan, Lào, Đài Loan.

Tính chung 5 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 2.172,3 nghìn USD, giảm 23,0% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do xuất khẩu chè đạt 1.598,0 nghìn USD, giảm 39,5%, xuất khẩu lõi ngô ép đạt 28,6 nghìn USD, giảm 18,3%; bên cạnh đó một số mặt hàng xuất khẩu tăng như: Xuất khẩu ngô giống đạt 352,5 nghìn USD, tăng 2,0 lần; xuất khẩu xi măng đạt 81,0 nghìn USD, tăng 161,3%. Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 5 tháng đầu năm, Apganixtan là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 1.342,1 nghìn USD; tiếp đến là Lào đạt 433,5 nghìn USD; Đài Loan đạt 255,9 nghìn USD; Ấn Độ đạt 112,2 nghìn USD; Hàn Quốc đạt 28,6 nghìn USD.

2. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 5 ước tính đạt 1.577,0 nghìn USD, tăng 4,5% so với tháng trước, chủ yếu do nhập khẩu phân bón đạt 288 nghìn USD, tăng 20,0%, nhập khẩu máy móc thiết bị đạt 1.133,0 nghìn USD, tăng 2,1%; riêng nhập khẩu cỏ Anphapha đạt 156,0 nghìn USD, giảm 2,5%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 5 tăng 3,1%, trong đó nhập khẩu cỏ Anphapha tăng 127,4%; nhập khẩu phân bón tăng 2,0 lần; riêng nhập khẩu máy móc thiết bị giảm 17,0%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 7.173,0 nghìn USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do nhập khẩu cỏ Anphapha tăng 46,2%; nhập khẩu phân bón tăng 2,1%; riêng nhập khẩu máy móc thiết bị giảm 3,7%.

VIII. CHỈ SỐ GIÁ

1. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2018 so với tháng trước tăng 0,38%, trong đó khu vực thành thị tăng 0,42%, khu vực nông thôn tăng 0,35%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ, 06 nhóm có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Nhóm giao thông tăng 1,43% (chủ yếu do giá xăng, dầu tăng 3,86% theo Quyết định điều chỉnh tăng giá xăng, dầu ngày 08 và ngày 23/5/2018 của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, bình quân giá xăng tăng 625 đồng/lít, giá dầu tăng 887 đồng/lít); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,47% (lương thực tăng 0,73%; thực phẩm tăng 0,49%; ăn uống ngoài gia đình ổn định); nhà ở, điện, nước, chất đốt, vật liệu xây dựng tăng 0,37% (chủ yếu ở mặt hàng điện sinh hoạt tăng 1,16%; vật liệu xây dựng tăng 0,88%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,23% (chủ yếu ở mặt hàng bia hơi tăng 9,09%); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,11%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01% (chủ yếu ở một số mặt hàng gia dụng phục vụ mùa hè tăng cao); 05 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tương đương tháng trước.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2018 tăng 0,76% so với tháng 12/2017 và tăng 2,24% so với cùng kỳ năm trước.

Dự báo tháng 6/2018 giá cả thị trường tăng nhẹ.

2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 5/2018 giảm 0,45% so với tháng trước, tăng 0,66% so với tháng 12/2017 và tăng 0,21% so với cùng kỳ năm trước, giá vàng 99,99% bán ra bình quân trong tháng là 3.679.400 đồng/chỉ.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2018 so với tháng trước giảm 0,11%, so với tháng 12/2017 và so với cùng kỳ năm trước cùng tăng 0,25%.

IX. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Trong tháng đời sống cán bộ, công nhân, viên chức và người hưởng bảo hiểm xã hội ổn định, trên địa bàn tỉnh không còn xảy ra tình trạng thiếu đói giáp hạt.

Công tác an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, cho vay vốn phát triển sản xuất, cho vay hỗ trợ lãi suất, chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên nghèo và các đối tượng chính sách tiếp tục được các cấp chính quyền địa phương, cơ quan chức năng quan tâm chỉ đạo, phối hợp thực hiện. Trong tháng đã phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ trẻ em khuyết tật Việt Nam tổ chức khám sàng lọc cho 713 trẻ em khuyết tật và phối hợp với Bệnh viện Tim Hà Nội, Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện đa khoa Phù Yên khám sàng lọc cho 146 trẻ em bị tim bẩm sinh tại các huyện, thành phố; trao tặng 50 suất học bổng, trị giá 50 triệu đồng cho trẻ em hoàn cảnh khó khăn dân tộc Ha La tại xã Liệp Tè, huyện Thuận Châu.

Ngân hàng chính sách xã hội đã thực hiện các chương trình cho vay đối với 3.733 lượt hộ với tổng số tiền 104.198 triệu đồng. Công tác tư vấn việc làm, học nghề và xuất khẩu lao động được 2.004 lượt người; chuyển đổi và tạo việc làm, việc làm tăng thêm thu nhập cho 2.110 lao động; tuyển sinh đào tạo dạy nghề đạt 807 học viên, số học sinh tốt nghiệp trong tháng 5 là 478 người.

2. Giáo dục và đào tạo

Ngành Giáo dục tiếp tục chỉ đạo, triển khai các nhiệm vụ học kỳ II năm học 2017 - 2018; tổ chức kiểm tra, đánh giá, tổng kết cuối năm học; xét công nhận tốt nghiệp THCS năm học 2017 - 2018; tổ chức thi và duyệt kết quả thi nghề phổ thông cho các trường THPT, PTDTNT THCS&THPT, TTGDNN-GDTX; chuẩn bị các điều kiện cho kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia (ngày 25-27/6/2018), dự kiến trên địa bàn tỉnh thành lập 01 Hội đồng thi với 43 điểm thi, 437 phòng với 10.543 thí sinh dự thi. Phối hợp tuyển sinh, đón tiếp 135 lưu học sinh 09 tỉnh Bắc Lào sang đào tạo tiếng Việt.

3. Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Ngành Y tế tập trung triển khai công tác phòng chống dịch chủ động, dự báo, phát hiện sớm, khống chế kịp thời dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra, giảm tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh truyền nhiễm tại các cửa khẩu biên giới, không để dịch bệnh xâm nhập, trong đó tập trung vào một số bệnh: Dại, ho gà, tay chân miệng, sởi, viêm não vi rút, …

Trong tháng trên địa bàn tỉnh không có vụ dịch xảy ra; một số bệnh truyền nhiễm mắc rải rác: Cúm mùa 1.283 trường hợp; tay chân miệng 19 trường hợp; viêm gan B 06 trường hợp; lỵ amip 22 trường hợp; quai bị 137 trường hợp; thủy đậu 168 trường hợp. Số người nhiễm HIV 08 trường hợp; tử vong do AIDS 04 trường hợp; ngộ độc thực phẩm 598 trường hợp, không có tử vong, trong đó mắc theo vụ 02 vụ, 452 trường hợp mắc, 290 ca nhập viện, đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn thành lập đoàn điều tra ngộ độc thực phẩm, hồi cứu vụ ngộ độc thực phẩm tại xã Nậm Ty, huyện Sông Mã.

Chỉ đạo các đơn vị tổ chức tốt công tác khám, điều trị, cấp cứu, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ với tổng số lượt khám bệnh trong tháng 5 là 114.961 lượt; số bệnh nhân điều trị nội trú 16.093 người; số bệnh nhân điều trị ngoại trú 64.181 người; số bệnh nhân chuyển tuyến 7.985 lượt, trong đó chuyển về Trung ương 487 lượt. Tiếp tục tổ chức triển khai có hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế về lĩnh vực y tế. Triển khai Chiến dịch truyền thông bảo đảm an toàn thực phẩm dịp Tết Nguyên đán từ ngày 10/01/2015 đến 30/3/2015; tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh trước, trong và sau Tết; đặc biệt lưu ý các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm phục vụ tết như: bánh, mứt, kẹo, bia rượu, nước giải khát, thịt, thực phẩm chế biến sẵn (giò, chả, nem chạo, ...), kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng các chất phụ gia trong chế biến thực phẩm, thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa phương nhằm giảm tối đa số vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trong dịp tết. Tăng cường kiểm tra, giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có quy mô lớn, tại các chợ đầu mối, các điểm diễn ra những hoạt động văn hóa (hoạt động mừng xuân Ất Mùi, hội chợ xuân…).

4. Văn hóa, thông tin, thể thao

Tổ chức tốt công tác thông tin tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuyên truyền công tác trồng và bảo vệ rừng, công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống ma túy, phòng chống tham nhũng, lãng phí...

Trong tháng đã tổ chức chiếu phim 295 buổi, phục vụ 129.500 lượt người xem; tuyên truyền giới thiệu sách 24 cuộc; phục vụ 68.290 lượt khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh và các điểm di tích; tổ chức triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam những bằng chứng lịch sử và pháp lý tại huyện Phù Yên và Bắc Yên thu hút gần 3.000 người tham gia.

Tổ chức thành công Giải thể thao người khuyết tật năm 2018. Tham gia thi đấu giải Câu lạc bộ toàn quốc tại tỉnh Thái Nguyên đạt 01 HCB, 05 HCĐ; giải vô địch boxing Cúp các câu lạc bộ toàn quốc tại tỉnh Đắc Lăk đạt 01 HCĐ. Duy trì công tác huấn luyện, quản lý các đội tuyển tỉnh (36 VĐV), đội tuyển trẻ (63 VĐV); đội năng khiếu (344 VĐV).

Tham gia Giải thưởng sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật, báo chí về chủ đề Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh" đợt I (2015-2018) cấp Trung ương, kết quả toàn tỉnh có 10 tác phẩm đạt Giải.

Phát thanh tiếng phổ thông thực hiện 93 chương trình, sử dụng 625 tin, bài, phóng sự và 115 chuyên đề, chuyên mục; tiếng dân tộc 124 chương trình, sử dụng 543 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt, 104 chuyên đề, chuyên mục.

Truyền hình tiếng phổ thông thực hiện 280 chương trình, sử dụng 1.103 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt và 241 chuyên đề, chuyên mục; tiếng dân tộc 70 chương trình, sử dụng 539 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt, 34 chuyên đề, chuyên mục; 08 chương trình cộng tác với VTV.

5. Công tác phòng chống ma tuý

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo 2968 đến ngày 15/5/2018 toàn tỉnh có 8.867 người nghiện ma tuý đang trong diện quản lý, trong đó có 1.879 người đang cai nghiện tập trung tại các cơ sở điều trị nghiện ma túy (trong đó 1.817 trường hợp cưỡng chế, 11 tự nguyện, 50 hỗ trợ cắt cơn), 04 người đang quản lý sau cai, 1.344 người đang điều trị bằng Methadone.

Trong tháng, toàn tỉnh phát hiện, bắt giữ 109 vụ, 142 đối tượng; triệt xoá 10 điểm, 16 đối tượng có liên quan đến ma tuý; vận động, bắt 03 đối tượng truy nã về ma tuý. Tính chung 5 tháng đầu năm đã phát hiện, bắt giữ 524 vụ, 721 đối tượng; triệt xoá 52 điểm, 60 đối tượng có liên quan đến ma tuý; vận động, bắt 08 đối tượng truy nã về ma tuý. Hiện trên địa bàn tỉnh còn 10 điểm, 58 đối tượng có biểu hiện bán lẻ, chứa chấp, tổ chức sử dụng ma túy ở 32 tổ, bản thuộc 19 xã, thị trấn.

6. An toàn giao thông

Trong tháng (từ 16/4 đến 15/5), trên địa bàn tỉnh xảy ra 10 vụ tai nạn, va chạm giao thông làm 07 người chết và 12 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 05 vụ, số người chết tương đương, số người bị thương giảm 02 người. Tính chung 5 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 54 vụ tai nạn, va chạm giao thông làm 36 người chết và 48 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn tăng 04 vụ, số người chết tăng 09 người, số người bị thương tương đương.

7. Thiện hại do thiên tai

Theo báo cáo sơ bộ, mưa to kèm theo gió lốc, mưa đá và sét đánh xảy ra trong tháng 5/2018 làm 63 nhà ở bị sạt lở, tốc mái, ngập úng; 08 trường, điểm trưởng bị ảnh hưởng; 06 ha lúa, 02 ha hoa màu, rau màu, 02 con gia súc, 01 ha nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 1.540 triệu đồng.

8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng 5, cơ quan chức năng đã phát hiện 62 vụ vi phạm các quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 61 vụ với tổng số tiền phạt 532 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm, đã phát hiện 194 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, trong đó xử lý 190 vụ với tổng số tiền xử phạt 771 triệu đồng.

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, nổ, thiệt hại ước tính 1.370 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ cháy, nổ làm 01 người chết, 02 người bị thương, thiệt hại ước tính 3.250 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ giảm 19,0%, số người chết tương đương và thiệt hại ước tính tăng 18,5%./.

Cục Thống kê tỉnh Sơn La


THÔNG TIN CẢI CÁCH


THỐNG KÊ TRUY CẬP

Tổng số lượt truy cập: 49601130
Số người đang truy cập: 285