Số liệu thống kê

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2018
Wed, 16/05/2018 13:00 | GMT +7
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2018

I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

a) Trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung vào gieo trồng, chăm sóc cây trồng vụ đông xuân. Tính đến ngày 15/4, toàn tỉnh đã gieo trồng được 11.796 ha lúa đông xuân, 1.395 ha ngô, 10.462 ha sắn, 8.039 ha mía, 4.032 ha rau các loại, 2.190 ha dong giềng, 176 ha lạc và 121 ha đậu các loại. So với cùng kỳ năm trước diện tích lúa đông xuân giảm 2,0%; ngô tăng 28,9%; sắn giảm 4,2%; mía tăng 27,6%; rau các loại tăng 13,2%; dong giềng tăng 3,3%; lạc tăng 18,9%; đậu các loại tăng 86,2%.

Tính đến trung tuần tháng Tư, toàn tỉnh đã thu hoạch được 1.689 tấn ngô, 437.068 tấn mía, 40.307 tấn rau các loại, 144 tấn khoai lang, 121 tấn đậu các loại. So với cùng kỳ năm trước sản lượng ngô tăng 28,0%; mía tăng 34,7%; rau các loại tăng 5,4%; đậu các loại tăng 120,0%.

Cây lâu năm tiếp tục phát triển, diện tích cây lâu năm hiện có 36.312 ha cây ăn quả, 28.185 ha cây lấy sản phẩm chủ yếu cho công nghiệp chế biến, trong đó chè 4.522 ha, cao su 6.039 ha, cà phê 17.624 ha. So với cùng kỳ năm trước diện tích cây ăn quả tăng 52,2%, do có chính sách đầu tư hỗ trợ phát triển cây lâu năm của tỉnh; cây lấy sản phẩm cho công nghiệp chế biến tăng 1,4%, trong đó chè tăng 5,2%, cà phê tăng 2,0%, cao su giảm 2,7%.

Thực hiện chủ trương chuyển dịch sản xuất cây trồng của tỉnh, 4 tháng đầu năm 2018 trên địa bàn tỉnh trồng mới 851 ha cây ăn quả trên đất dốc và 645 ha cây ghép lai cho năng suất và chất lượng cao. Toàn tỉnh hiện có 19.881 ha cây ăn quả trồng trên đất dốc, trong đó trồng trên đất trồng lúa nương 646 ha, đất trồng ngô 18.883 ha, đất trồng sắn 159 ha, đất trồng cà phê 193 ha; 8.861 ha cây lâu năm ghép lai, trong đó 3.311 ha diện tích cho sản phẩm; 173 ha rau các loại, 248 ha chè, 121 ha nhãn, 26 ha xoài, 20 ha na, 17 ha cam, 08 ha chanh leo, 05 ha mận, 05 ha thanh long, 05 ha dâu tây và 02 ha bưởi theo tiêu chuẩn VietGap.

Tính chung 4 tháng đầu năm đã thu hoạch được 9.827 tấn chuối, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước; 1.357 tấn cam, tăng 107,8%; 526 tấn bưởi, tăng 22,9%; 17 tấn mận, tăng 183,3%; 1.635 tấn chè, tăng 11,1%; 44 tấn cao su, tăng 69,2% và 140 tấn chanh leo, cùng kỳ năm trước không phát sinh.

Trong tháng trên địa bàn tỉnh xuất hiện dịch bệnh đối với cây trồng làm 82 ha lúa, 02 ha rau, 59 ha cà phê và 38 ha cây ăn quả bị bệnh, tuy nhiên không có diện tích mất trắng, dự ước giá trị thiệt hại 98 triệu đồng.

b) Chăn nuôi

Chăn nuôi gia súc, gia cầm nhìn chung ổn định, không xảy ra dịch bệnh lớn. Đàn trâu toàn tỉnh đến tháng 4 ước tính 142.310 con, giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 292.784 con, tăng 8,4%; đàn lợn 606.302 con, giảm 1,1%; đàn gia cầm 6.354 nghìn con, tăng 8,4%.

Sản lượng sản phẩm thịt trâu hơi xuất chuồng tháng 4 ước đạt 385 tấn, thịt bò 439 tấn, thịt lợn 3.755 tấn, thịt gia cầm 857 tấn, sản lượng sữa tươi 7.260 tấn, trứng gia cầm 4.419 nghìn quả. Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng sản phẩm thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 1.694 tấn, tăng 3,1%; thịt bò 1.900 tấn, tăng 2,3%; thịt lợn 15.042 tấn, tăng 1,5%; thịt gia cầm 3.742 tấn, tăng 2,1%; sản lượng sữa tươi 28.945 tấn, tăng 11,8%; trứng gia cầm 17.453 nghìn quả, tăng 38,6% so với cùng kỳ năm trước.

Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm được 345 liều vắc xin THT trâu, bò; 158.892 liều vắc xin lở mồm long móng; 4.400 liều vắc xin Niu cát xơn và 56.340 liều vắc xin dại chó. Công tác kiểm dịch xuất và nhập gia súc, gia cầm đuợc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo kịp thời phát hiện và xử lý nhanh các trường hợp mắc bệnh, tránh dịch bệnh lây lan ra diện rộng.

Trong tháng xảy ra dịch bệnh lở mồm long móng tại xã Quy Hướng, Tân Hợp và Nà Mường huyện Mộc Châu làm 190 con trâu, 825 con bò mắc bệnh tuy nhiên đã được chữa khỏi.

2. Lâm nghiệp

Theo báo cáo của Chi cục Kiểm Lâm, toàn tỉnh đã ươm được 7.540 nghìn cây giống các loại và chuẩn bị địa bàn trồng rừng thiết kế được 1.600 ha, đạt 45,7% kế hoạch giao. Trong tháng 4, sản lượng gỗ khai thác ước tính đạt 2.360 m3, giảm 5,4%; củi khai thác ước đạt 101.810 ste, giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 9.895 m3, giảm 6,1%; củi khai thác đạt 405.340 ste, giảm 1,9% so với cùng kỳ.

Trong tháng xảy ra 27 vụ vi phạm lâm luật với tổng số tiền phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 169 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 112 vụ vi phạm lâm luật với số tiền phạt vi phạm hành chính 746 triệu đồng, trong đó cháy rừng 01 vụ với diện tích rừng thiệt hại 04 ha; chặt phá rừng 39 vụ với diện tích 03 ha; so với cùng kỳ năm trước số vụ vi phạm lâm luật giảm 36,4%, số tiền phạt vi phạm hành chính tăng 155,5%.

3. Thuỷ sản

Toàn tỉnh hiện có 2.676 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản, 9.037 lồng bè nuôi trồng thủy sản với thể tích 762.830 m3. So với cùng kỳ năm trước diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng 0,1%, số lồng bè tăng 2,2 lần, thể tích tăng 2,1 lần.

Sản lượng thuỷ sản tháng 4 ước tính đạt 552 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng 460 tấn, khai thác 92 tấn. Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt 2.714 tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng 2.350 tấn, tăng 6,0%; khai thác 364 tấn, tăng 0,6%.

Sản lượng giống thủy sản tính đến tháng 4/2018 đạt 17,5 triệu con, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 4 ước tính giảm 19,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 15,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,6%; sản xuất và phân phối điện giảm 22,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,5%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 0,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 17,5%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,7%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước: In, sao chép bản ghi các loại tăng 27,9%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 17,5%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,8%. Một số ngành có chỉ số sản xuất giảm: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 43,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 39,8%; sản xuất đồ uống giảm 31,3%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 15,8%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu giảm 3,6%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 2,3%; khai khoáng khác giảm 0,6%.

Trong 4 tháng đầu năm, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Mật đường tăng 52,2%; sản phẩm in khác tăng 27,9%; đường chưa luyện tăng 21,9%; điện sản xuất tăng 17,9% (trong đó: Thuỷ điện Sơn La tăng 20,5%, thuỷ điện Huội Quảng tăng 1,4%); chè nguyên chất tăng 14,1%; xi măng tăng 9,8%. Một số sản phẩm có mức tăng thấp hoặc giảm: Sữa chua, sữa và kem lên men hoặc axít hoá tăng 6,5%; đá xây dựng các loại giảm 0,6%; sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác giảm 0,7%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế giảm 1,6%; nước uống được giảm 2,3%; phân vi sinh giảm 8,3%; điện thương phẩm giảm 8,4%; nước tinh khiết giảm 20,2%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 38,4%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4 ước tính tăng 10,2% so với tháng trước và giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 5,6 lần; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 192,9%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 25,7%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 4 tháng tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 6,3%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 5,3%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 5,6%; sản xuất đồ uống giảm 29,3%; dệt giảm 88,3%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4 tăng 53,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 24,7%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 37,5%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 52,5%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung: Sản xuất giường tủ, bàn ghế tăng 3,5 lần; dệt tăng 2,3 lần; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 72,6%.

III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng 4 toàn tỉnh có 34 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 640,1 tỷ đồng, tăng 36,0% về số doanh nghiệp và tăng 4,5 lần số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 18,8 tỷ đồng, tăng 3,0 lần.

Tính chung 4 tháng đầu năm, toàn tỉnh có 94 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.447,3 tỷ đồng, giảm 6,9% về số doanh nghiệp và tăng 156,8% số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 15,4 tỷ đồng, tăng 176,0%. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 32 doanh nghiệp, tăng 23,0%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 09 doanh nghiệp, tăng 80,0% so với cùng kỳ.

IV. HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ

1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa

Là tháng có kỳ nghỉ Lễ Giỗ tổ Hùng Vương; 30/4 và 01/5 kéo dài 04 ngày; trên địa bàn tỉnh tổ chức "Hội chợ thương mại", "Hội trà cao nguyên Mộc Châu" năm 2018 đã thu hút khối lượng khách du lịch đến Sơn La, kích cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ. Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 4 ước tính đạt 1.593.254 triệu đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm ngành hàng so với cùng kỳ năm trước đều tăng, trong đó tăng cao nhất là nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,1%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 10,6%; ô tô các loại tăng 10,5%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ tăng 10,3%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) và nhóm xăng dầu các loại cùng tăng 10,2%; các nhóm ngành hàng khác tăng từ 6,1% đến 10,0%.

Tính chung 4 tháng đầu năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 6.304.180 triệu đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 12,7%; xăng, dầu các loại tăng 10,9%; hàng hóa khác tăng 10,7%; lương thực, thực phẩm tăng 10,5%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 10,1%; các nhóm ngành hàng khác tăng từ 5,9% đến 9,5%.

2. Doanh thu hoạt động dịch vụ

Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 4 ước tính đạt 446.876 triệu đồng, tăng 3,1% so với tháng trước và tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 17.469 triệu đồng, tăng 8,3% và tăng 4,7%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 143.965 triệu đồng, tăng 6,9% và tăng 8,0%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 428 triệu đồng, tăng 1,2% và giảm 70,7% (chủ yếu do công ty TNHH một thành viên Thương mại, du lịch Sầm Nưa và công ty TNHH một thành viên Du lịch Chiềng Khoa hiệu quả kinh doanh thấp, chuyển sang hoạt động ngành nghề khác); doanh thu dịch vụ khác đạt 285.014 triệu đồng, tăng 1,0% và tăng 6,7%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, doanh thu hoạt động dịch vụ ước đạt 1.736.762 triệu đồng, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú tăng 9,1%; ăn uống tăng 8,9%; dịch vụ khác tăng 5,8%; riêng du lịch lữ hành giảm 67,5%.

3. Vận tải hành khách và hàng hoá

Vận tải hành khách và hàng hóa trên các tuyến ổn định, đáp ứng nhu cầu đi lại và sản xuất của nhân dân nhất là trong dịp nghỉ lễ 30/4 và 01/5 kéo dài. Vận tải hành khách tháng 4 ước tính đạt 311 nghìn lượt khách và 30.083 nghìn lượt khách.km, so với tháng trước tăng 3,8% và tăng 4,1%, so với cùng kỳ năm trước tăng 8,5% và tăng 8,9%. Tính chung 4 tháng đầu năm, vận tải hành khách ước đạt 1.224 nghìn lượt khách, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước và 116.422 nghìn lượt khách.km, tăng 7,4%, trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 1.124 nghìn lượt khách, tăng 5,9% và 115.396 nghìn lượt khách.km, tăng 7,4%.

Doanh thu vận tải hành khách tháng 4 ước tính đạt 28.373 triệu đồng, tăng 4,1% so với tháng trước và tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 110.089 triệu đồng, tăng 8,0%, trong đó doanh thu vận tải hành khách đường bộ 106.663 triệu đồng, tăng 8,0% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hóa tháng 4 ước tính đạt 415 nghìn tấn và 47.209 nghìn tấn.km, so với tháng trước tăng 3,6% và tăng 4,0%, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,4% và tăng 9,3%. Tính chung 4 tháng đầu năm, vận tải hàng hóa đạt 1.588 nghìn tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước và 179.962 nghìn tấn.km, tăng 7,5%, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 1.569 nghìn tấn, tăng 6,7% và 179.456 nghìn tấn.km, tăng 7,5%.

Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 4 ước tính đạt 143.010 triệu đồng, tăng 4,5% so với tháng trước và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 545.897 triệu đồng, tăng 8,7%, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa đường bộ 543.552 triệu đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2017.

Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 4 ước tính đạt 4.091 triệu đồng, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 6,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 15.522 triệu đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bốc xếp hàng hóa đạt 115 triệu đồng, giảm 96,9%; doanh thu hoạt động khác 15.407 triệu đồng, tăng 47,0%.

V. VỐN ĐẦU TƯ

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý tháng 4 ước tính đạt 219.267 triệu đồng, bằng 7,8% kế hoạch năm và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 160.790 triệu đồng, bằng 7,5% và giảm 3,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 58.477 triệu đồng, bằng 8,9% và tăng 73,7%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 726.246 triệu đồng, bằng 25,9% kế hoạch năm và tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 549.780 triệu đồng, bằng 25,9% và tăng 8,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 176.466 triệu đồng, bằng 27,0% và tăng 32,0%.

Nhìn chung, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước 4 tháng đầu năm tăng khá so với cùng kỳ năm trước do tiến độ thực hiện các dự án đã được đẩy nhanh ngay từ các tháng đầu năm, UBND các cấp đã chủ động xây dựng phương án và tiến hành phân bổ vốn sớm, tập trung đôn đốc các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án được giao, đặc biệt là dự án quan trọng, trọng điểm của tỉnh. Dự tính vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước các tháng tiếp theo tiếp tục tăng khá.

VI. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

1. Thu, chi ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tháng 4 ước tính đạt 2.484,2 tỷ đồng, tăng 15,6% so với tháng trước và tăng 25,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 1.805,2 tỷ đồng, tăng 46,0% và tăng 29,4%; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 679,0 tỷ đồng, giảm 25,6% và tăng 15,7%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước tính đạt 6.634,0 tỷ đồng, bằng 49,7% so với dự toán năm và tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 3.902,2 tỷ đồng, bằng 85,1% và tăng 82,3%; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 2.731,8 tỷ đồng, bằng 31,2% và giảm 22,4%. Trong thu cân đối ngân sách nhà nước, thu nội địa ước đạt 1.298,8 tỷ đồng, bằng 29,2% và tăng 56,2%; thu hải quan ước đạt 16,8 tỷ đồng, bằng 46,7% và giảm 46,4%.

Tổng chi ngân sách nhà nước tháng 4 ước tính đạt 739,0 tỷ đồng, tăng 2,9% so với tháng trước và giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 3.332,6 tỷ đồng, bằng 25,4% dự toán năm và tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Chi thường xuyên đạt 2.398,3 tỷ đồng, bằng 26,8% và tăng 3,8%; chi đầu tư phát triển đạt 553,9 tỷ đồng, bằng 35,9% và giảm 13,2%; chi chương trình mục tiêu quốc gia, hỗ trợ mục tiêu đạt 380,4 tỷ đồng, bằng 18,4% và tăng 51,6%.

2. Thu chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng, tín dụng

Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn ổn định, tổng thu tiền mặt qua quỹ ngân hàng 4 tháng đầu năm ước thực hiện 33.061 tỷ đồng, tổng chi tiền mặt ước thực hiện 32.662 tỷ đồng, bội thu 400 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước tổng thu tiền mặt tăng 9,7%, tổng chi tiền mặt tăng 7,3%.

Dư nợ tín dụng ước đạt 30.000 tỷ đồng, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dư nợ ngắn hạn đạt 13.200 tỷ đồng, tăng 21,5%; dư nợ trung dài hạn đạt 16.800 tỷ đồng, tăng 14,3%. Trong tổng dư nợ, dư nợ cho vay các đối tượng chính sách đến 31/3/2018 là 3.731 tỷ đồng, chiếm 12,4%; nợ xấu toàn địa bàn là 393 tỷ đồng, chiếm 1,3%.

Huy động vốn tại địa phương ước đến hết tháng 4 đạt 16.000 tỷ đồng, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tiền gửi tiết kiệm 12.800 tỷ đồng, tăng 17,2%; tiền gửi các tổ chức kinh tế 3.100 tỷ đồng, tăng 18,0%; tiền gửi giấy tờ có giá 100 tỷ đồng, tăng 93,1%.

VII. XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

1. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 4 ước tính đạt 589,7 nghìn USD, tăng 63,0% so với tháng trước, tăng chủ yếu ở mặt hàng chè xuất khẩu đạt 443,8 nghìn USD, tăng 86,4%; xuất khẩu ngô giống đạt 112,8 nghìn USD, tăng 14,3%; xuất khẩu xi măng đạt 25,7 nghìn USD, tăng 2,4%; xuất khẩu lõi ngô ép đạt 7,4 nghìn USD, tháng trước không phát sinh. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 4 năm nay giảm 28,1%, chủ yếu do xuất khẩu chè giảm 45,4% (mặt hàng này chiếm tỷ trọng lớn với 75,3% trong kim ngạch xuất khẩu); riêng xuất khẩu xi măng tăng 247,3%; xuất khẩu lõi ngô ép và xuất khẩu ngô giống cùng kỳ năm trước không phát sinh. Thị trường xuất khẩu chủ yếu trong tháng: Apganixtan, Lào, Đài Loan, Hàn Quốc.

Tính chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 1.829,7 nghìn USD, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do xuất khẩu chè đạt 1.276 nghìn USD, giảm 27,4%, bên cạnh đó một số mặt hàng xuất khẩu tăng như: Xuất khẩu lõi ngô ép đạt 28,6 nghìn USD, tăng 19,2%; xuất khẩu xi măng đạt 60,4 nghìn USD, tăng 145,5%; xuất khẩu ngô giống đạt 352,5 nghìn USD, tăng 204,9%. Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 4 tháng đầu năm, Apganixtan là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 1.105,2 nghìn USD; tiếp đến là Lào đạt 412,9 nghìn USD; Đài Loan đạt 170,8 nghìn USD; Ấn Độ đạt 112,2 nghìn USD; Hàn Quốc đạt 28,6 nghìn USD.

2. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 4 ước tính đạt 1.585,2 nghìn USD, giảm 1,3% so với tháng trước, chủ yếu do nhập khẩu phân bón giảm 25,0%, bên cạnh đó nhập khẩu cỏ Anphapha tăng 2,0%; nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 1,5%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 4 tăng 18,2%, trong đó nhập khẩu cỏ Anphapha tăng 127,6%; nhập khẩu phân bón tăng 67,6%; nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 8,7%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 5.672,0 nghìn USD, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do nhập khẩu cỏ Anphapha tăng 29,1%; nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 4,9%; riêng nhập khẩu phân bón giảm 28,6%.

VIII. CHỈ SỐ GIÁ

1. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2018 so với tháng trước tăng 0,11%, trong đó khu vực thành thị tăng 0,10%, khu vực nông thôn tăng 0,11%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ, 05 nhóm có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Nhóm giao thông tăng 1,34% (chủ yếu do thực hiện Quyết định kê khai điều chỉnh tăng giá cước vận tải đường bộ bằng xe ô tô của Công ty CP xe khách Sơn La ngày 28/3/2018, bình quân giá vé ô tô khách tăng 11,57%, giá xe taxi tăng 18,19%; bên cạnh đó giá xăng, dầu tăng 2,50% theo Quyết định điều chỉnh tăng giá xăng, dầu ngày 07/4/2018 của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, bình quân giá xăng tăng 565 đồng/lít, giá dầu tăng 650 đồng/lít); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,28%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,23%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16% (chủ yếu ở một số mặt hàng gia dụng phục vụ mùa hè tăng cao); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09% (chủ yếu ở dịch vụ thuê sân chơi thể thao tăng cao 13,40%). 02 nhóm có chỉ số giá giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,16% (chủ yếu do giá thực phẩm giảm 0,33%); nhà ở, điện, nước, chất đốt, vật liệu xây dựng giảm 0,30% (chủ yếu ở mặt hàng điện sinh hoạt giảm 4,12%). 04 nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tương đương tháng trước.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2018 tăng 0,37% so với tháng 12/2017 và tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước.

Dự báo tháng 5/2018 giá cả thị trường chững lại.

2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 4/2018 tăng 0,32% so với tháng trước, tăng 1,12% so với tháng 12/2017 và tăng 0,59% so với cùng kỳ năm trước, giá vàng 99,99% bán ra bình quân trong tháng là 3.684.400 đồng/chỉ.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2018 tăng 0,20% so với tháng trước, tăng 0,36% so với tháng 12/2017 và tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước.

IX. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Trong tháng đời sống cán bộ, công nhân, viên chức và người hưởng bảo hiểm xã hội ổn định, trên địa bàn tỉnh không còn xảy ra tình trạng thiếu đói giáp hạt.

Công tác an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, cho vay vốn phát triển sản xuất, cho vay hỗ trợ lãi suất, chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên nghèo và các đối tượng chính sách tiếp tục được các cấp chính quyền địa phương, cơ quan chức năng quan tâm chỉ đạo, phối hợp thực hiện. Ngân hàng chính sách xã hội đã thực hiện các chương trình cho vay đối với 10.636 lượt hộ với tổng số tiền 317.003 triệu đồng. Công tác tư vấn việc làm, học nghề và xuất khẩu lao động được 239 lượt người; chuyển đổi và tạo việc làm, việc làm tăng thêm thu nhập cho 2.050 lao động; tuyển sinh đào tạo được 147 học viên.

2. Giáo dục và đào tạo

Ngành Giáo dục tiếp tục chỉ đạo, triển khai các nhiệm vụ học kỳ II năm học 2017 - 2018; tổ chức ôn tập, kiểm tra học kỳ II; tổ chức kỳ thi học sinh giỏi THPT cấp tỉnh với 746 học sinh dự thi và 320 thí sinh đạt giải gồm 12 giải nhất, 62 giải nhì, 96 giải ba và 150 giải khuyến khích; tổ chức thi nghề phổ thông năm học 2017 - 2018; tổ chức kỳ thi chọn đội tuyển học sinh giỏi Quốc gia năm học 2018 - 2019 (đợt 1); hướng dẫn tuyển sinh vào các lớp đầu cấp năm học 2018 - 2019.

3. Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Ngành Y tế tăng cường chỉ đạo về công tác phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là sốt xuất huyết, dịch sởi, tiêu chảy cấp, cúm A(H7N9)... Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh; trong tháng không có vụ dịch xảy ra; 18 người nhiễm HIV; 08 trường hợp tử vong do AIDS; 88 trường hợp ngộ độc thực phẩm, không có tử vong.

Chỉ đạo các đơn vị tổ chức tốt công tác khám, điều trị, cấp cứu, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ. Tổng số lượt khám bệnh tại các cơ sở y tế là 119.859 lượt; số bệnh nhân điều trị nội trú 16.467 người; số bệnh nhân điều trị ngoại trú 69.166 người; số bệnh nhân chuyển tuyến 9.735 lượt, trong đó chuyển về Trung ương 796 lượt. Tiếp tục tổ chức triển khai có hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế về lĩnh vực y tế. Triển khai Chiến dịch truyền thông bảo đảm an toàn thực phẩm dịp Tết Nguyên đán từ ngày 10/01/2015 đến 30/3/2015; tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh trước, trong và sau Tết; đặc biệt lưu ý các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm phục vụ tết như: bánh, mứt, kẹo, bia rượu, nước giải khát, thịt, thực phẩm chế biến sẵn (giò, chả, nem chạo, ...), kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng các chất phụ gia trong chế biến thực phẩm, thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa phương nhằm giảm tối đa số vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trong dịp tết. Tăng cường kiểm tra, giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có quy mô lớn, tại các chợ đầu mối, các điểm diễn ra những hoạt động văn hóa (hoạt động mừng xuân Ất Mùi, hội chợ xuân…).

4. Văn hóa, thông tin, thể thao

Tổ chức tốt công tác thông tin tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuyên truyền công tác trồng và bảo vệ rừng, công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống ma túy, phòng chống tham nhũng, lãng phí...

Trong tháng đã tổ chức chiếu phim 285 buổi, phục vụ 128.000 lượt người xem; tuyên truyền giới thiệu sách 22 cuộc; phục vụ 48.490 lượt khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh và các điểm di tích; tổ chức phục dựng thành công Lễ hội "Cầu mùa" (Trâu nhi) dân tộc Dao tại xã Phiêng Côn, huyện Bắc Yên thu hút trên 2.000 lượt người xem; tổ chức Gameshow "Về bản em" tại huyện Bắc Yên, Phù Yên; biểu diễn kỷ niệm 43 năm ngày giải phóng miền Nam, Quốc tế lao động 01/5 và diễn tập phòng cháy chữa cháy đạt 14 buổi phục vụ trên 28.000 lượt người xem; tổ chức trưng bày "Thể thao Sơn La một chặng đường phát triển" phục vụ Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Sơn La lần thứ VIII thu hút trên 3.500 lượt khách tham quan.

Tổ chức thành công Đại hội TDTT tỉnh Sơn La lần thứ VIII năm 2018 với 90% số xã, phường, thị trấn tổ chức tốt Đại hội TDTT và 100% huyện, thành phố tổ chức Đại hội TDTT cấp huyện, thành phố; thu hút trên 7.140 VĐV các sở, ngành tham gia thi đấu; Ban tổ chức đã trao hơn 200 huy chương vàng, bạc, đồng ở tất cả các nội dung thi đấu trước và trong Đại hội.

Duy trì công tác huấn luyện, quản lý các đội tuyển tỉnh (38 VĐV), đội tuyển trẻ (56 VĐV); đội năng khiếu (30 VĐV).

Phát thanh tiếng phổ thông thực hiện 90 chương trình, sử dụng 638 tin, bài, phóng sự và 101 chuyên đề, chuyên mục; tiếng dân tộc 120 chương trình, sử dụng 535 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt, 104 chuyên đề, chuyên mục.

Truyền hình tiếng phổ thông thực hiện 271 chương trình, sử dụng 983 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt và 230 chuyên đề, chuyên mục; tiếng dân tộc 68 chương trình, sử dụng 1.387 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt, 34 chuyên đề, chuyên mục; 08 chương trình cộng tác với VTV.

5. Công tác phòng chống ma tuý

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo 2968 đến ngày 15/4/2018 toàn tỉnh có 8.728 người nghiện ma tuý đang trong diện quản lý, trong đó có 1.835 người đang cai nghiện tập trung tại các cơ sở điều trị nghiện ma túy (1.796 trường hợp cưỡng chế, 12 tự nguyện, 27 hỗ trợ cắt cơn), 05 người đang quản lý sau cai, 1.358 người đang điều trị bằng Methadone.

Trong tháng, toàn tỉnh phát hiện, bắt giữ 115 vụ, 174 đối tượng; triệt xoá 10 điểm, 10 đối tượng có liên quan đến ma tuý; vận động, bắt 02 đối tượng truy nã về ma tuý. Tính chung 4 tháng đầu năm đã phát hiện, bắt giữ 415 vụ, 579 đối tượng; triệt xoá 42 điểm, 44 đối tượng có liên quan đến ma tuý; vận động, bắt 05 đối tượng truy nã về ma tuý. Hiện trên địa bàn tỉnh còn 11 điểm, 67 đối tượng có biểu hiện bán lẻ, chứa chấp, tổ chức sử dụng ma túy ở 34 tổ, bản thuộc 20 xã, thị trấn.

6. An toàn giao thông

Trong tháng (từ 16/3 đến 15/4), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ tai nạn, va chạm giao thông làm 02 người chết và 10 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 04 vụ, số người chết giảm 05 người, số người bị thương tăng 03 người.Tính chung 4 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 44 vụ tai nạn, va chạm giao thông làm 29 người chết và 36 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn tăng 09 vụ, số người chết tăng 09 người, số người bị thương tăng 02 người.

7. Thiện hại do thiên tai

Theo báo cáo sơ bộ, mưa to kèm theo gió lốc và mưa đá xảy ra trên địa bàn tỉnh từ đầu tháng 4 đến nay làm 01 người chết, 02 người bị thương; 104 ha hoa màu, rau và 1.131 ha cây lâu năm bị hư hỏng; 07 lồng bè nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; 394 nhà ở bị sạt lở, tốc mái, bị ảnh hưởng; 04 trường, điểm trưởng bị ảnh hưởng... Tổng giá trị thiệt hại ước tính 96.299 triệu đồng.

8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng 4, cơ quan chức năng đã phát hiện 30 vụ vi phạm các quy định về khai thác, buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép, cất giữ lâm sản, hủy hoại rừng..., trong đó xử lý 27 vụ với tổng số tiền phạt 169 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2018, đã phát hiện 132 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, trong đó xử lý 129 vụ với tổng số tiền phạt 408 triệu đồng.

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, nổ làm 02 người bị thương, thiệt hại ước tính 247 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ cháy, nổ làm 01 người chết, 02 người bị thương, thiệt hại ước tính 1.880 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ giảm 17,6%, số người chết tương đương và thiệt hại ước tính giảm 28,9%./.

Cục Thống kê tỉnh Sơn La


THÔNG TIN CẢI CÁCH


THỐNG KÊ TRUY CẬP

Tổng số lượt truy cập: 44308362
Số người đang truy cập: 104