Số liệu thống kê

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2018
Wed, 16/05/2018 13:00 | GMT +7
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2018

I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

a) Trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung vào gieo trồng, chăm sóc cây trồng vụ đông xuân. Tính đến ngày 15/4, toàn tỉnh đã gieo trồng được 11.796 ha lúa đông xuân, 1.395 ha ngô, 10.462 ha sắn, 8.039 ha mía, 4.032 ha rau các loại, 2.190 ha dong giềng, 176 ha lạc và 121 ha đậu các loại. So với cùng kỳ năm trước diện tích lúa đông xuân giảm 2,0%; ngô tăng 28,9%; sắn giảm 4,2%; mía tăng 27,6%; rau các loại tăng 13,2%; dong giềng tăng 3,3%; lạc tăng 18,9%; đậu các loại tăng 86,2%.

Tính đến trung tuần tháng Tư, toàn tỉnh đã thu hoạch được 1.689 tấn ngô, 437.068 tấn mía, 40.307 tấn rau các loại, 144 tấn khoai lang, 121 tấn đậu các loại. So với cùng kỳ năm trước sản lượng ngô tăng 28,0%; mía tăng 34,7%; rau các loại tăng 5,4%; đậu các loại tăng 120,0%.

Cây lâu năm tiếp tục phát triển, diện tích cây lâu năm hiện có 36.312 ha cây ăn quả, 28.185 ha cây lấy sản phẩm chủ yếu cho công nghiệp chế biến, trong đó chè 4.522 ha, cao su 6.039 ha, cà phê 17.624 ha. So với cùng kỳ năm trước diện tích cây ăn quả tăng 52,2%, do có chính sách đầu tư hỗ trợ phát triển cây lâu năm của tỉnh; cây lấy sản phẩm cho công nghiệp chế biến tăng 1,4%, trong đó chè tăng 5,2%, cà phê tăng 2,0%, cao su giảm 2,7%.

Thực hiện chủ trương chuyển dịch sản xuất cây trồng của tỉnh, 4 tháng đầu năm 2018 trên địa bàn tỉnh trồng mới 851 ha cây ăn quả trên đất dốc và 645 ha cây ghép lai cho năng suất và chất lượng cao. Toàn tỉnh hiện có 19.881 ha cây ăn quả trồng trên đất dốc, trong đó trồng trên đất trồng lúa nương 646 ha, đất trồng ngô 18.883 ha, đất trồng sắn 159 ha, đất trồng cà phê 193 ha; 8.861 ha cây lâu năm ghép lai, trong đó 3.311 ha diện tích cho sản phẩm; 173 ha rau các loại, 248 ha chè, 121 ha nhãn, 26 ha xoài, 20 ha na, 17 ha cam, 08 ha chanh leo, 05 ha mận, 05 ha thanh long, 05 ha dâu tây và 02 ha bưởi theo tiêu chuẩn VietGap.

Tính chung 4 tháng đầu năm đã thu hoạch được 9.827 tấn chuối, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước; 1.357 tấn cam, tăng 107,8%; 526 tấn bưởi, tăng 22,9%; 17 tấn mận, tăng 183,3%; 1.635 tấn chè, tăng 11,1%; 44 tấn cao su, tăng 69,2% và 140 tấn chanh leo, cùng kỳ năm trước không phát sinh.

Trong tháng trên địa bàn tỉnh xuất hiện dịch bệnh đối với cây trồng làm 82 ha lúa, 02 ha rau, 59 ha cà phê và 38 ha cây ăn quả bị bệnh, tuy nhiên không có diện tích mất trắng, dự ước giá trị thiệt hại 98 triệu đồng.

b) Chăn nuôi

Chăn nuôi gia súc, gia cầm nhìn chung ổn định, không xảy ra dịch bệnh lớn. Đàn trâu toàn tỉnh đến tháng 4 ước tính 142.310 con, giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 292.784 con, tăng 8,4%; đàn lợn 606.302 con, giảm 1,1%; đàn gia cầm 6.354 nghìn con, tăng 8,4%.

Sản lượng sản phẩm thịt trâu hơi xuất chuồng tháng 4 ước đạt 385 tấn, thịt bò 439 tấn, thịt lợn 3.755 tấn, thịt gia cầm 857 tấn, sản lượng sữa tươi 7.260 tấn, trứng gia cầm 4.419 nghìn quả. Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng sản phẩm thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 1.694 tấn, tăng 3,1%; thịt bò 1.900 tấn, tăng 2,3%; thịt lợn 15.042 tấn, tăng 1,5%; thịt gia cầm 3.742 tấn, tăng 2,1%; sản lượng sữa tươi 28.945 tấn, tăng 11,8%; trứng gia cầm 17.453 nghìn quả, tăng 38,6% so với cùng kỳ năm trước.

Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm được 345 liều vắc xin THT trâu, bò; 158.892 liều vắc xin lở mồm long móng; 4.400 liều vắc xin Niu cát xơn và 56.340 liều vắc xin dại chó. Công tác kiểm dịch xuất và nhập gia súc, gia cầm đuợc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo kịp thời phát hiện và xử lý nhanh các trường hợp mắc bệnh, tránh dịch bệnh lây lan ra diện rộng.

Trong tháng xảy ra dịch bệnh lở mồm long móng tại xã Quy Hướng, Tân Hợp và Nà Mường huyện Mộc Châu làm 190 con trâu, 825 con bò mắc bệnh tuy nhiên đã được chữa khỏi.

2. Lâm nghiệp

Theo báo cáo của Chi cục Kiểm Lâm, toàn tỉnh đã ươm được 7.540 nghìn cây giống các loại và chuẩn bị địa bàn trồng rừng thiết kế được 1.600 ha, đạt 45,7% kế hoạch giao. Trong tháng 4, sản lượng gỗ khai thác ước tính đạt 2.360 m3, giảm 5,4%; củi khai thác ước đạt 101.810 ste, giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 9.895 m3, giảm 6,1%; củi khai thác đạt 405.340 ste, giảm 1,9% so với cùng kỳ.

Trong tháng xảy ra 27 vụ vi phạm lâm luật với tổng số tiền phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 169 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 112 vụ vi phạm lâm luật với số tiền phạt vi phạm hành chính 746 triệu đồng, trong đó cháy rừng 01 vụ với diện tích rừng thiệt hại 04 ha; chặt phá rừng 39 vụ với diện tích 03 ha; so với cùng kỳ năm trước số vụ vi phạm lâm luật giảm 36,4%, số tiền phạt vi phạm hành chính tăng 155,5%.

3. Thuỷ sản

Toàn tỉnh hiện có 2.676 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản, 9.037 lồng bè nuôi trồng thủy sản với thể tích 762.830 m3. So với cùng kỳ năm trước diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng 0,1%, số lồng bè tăng 2,2 lần, thể tích tăng 2,1 lần.

Sản lượng thuỷ sản tháng 4 ước tính đạt 552 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng 460 tấn, khai thác 92 tấn. Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt 2.714 tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng 2.350 tấn, tăng 6,0%; khai thác 364 tấn, tăng 0,6%.

Sản lượng giống thủy sản tính đến tháng 4/2018 đạt 17,5 triệu con, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 4 ước tính giảm 19,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 15,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,6%; sản xuất và phân phối điện giảm 22,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,5%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 0,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo t