Số liệu thống kê

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và năm 2018
Tue, 08/01/2019 11:00 | GMT +7
Kinh tế - xã hội của năm 2018 diễn ra trong bối cảnh kinh tế trong nước chuyển biến tích cực với những kết quả nổi bật về tốc độ tăng trưởng, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút khách quốc tế và đầu tư nước ngoài, nhưng còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Sức ép lạm phát tăng lên, số doanh nghiệp tạm dừng kinh doanh tăng cao, công nghiệp chế biến chế tạo có xu hướng tăng chậm lại, diễn biến thời tiết và tình trạng cháy nổ, tai nạn giao thông phức tạp.

Trên địa bàn tỉnh, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả đạt được trong năm 2017, kinh tế - xã hội của tỉnh cũng đối mặt với không ít khó khăn: Cơ sở hạ tầng thiếu và yếu, quy mô và sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực kinh tế được cải thiện song còn chậm; năng suất lao động chưa cao; nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội lớn trong khi nguồn lực hạn hẹp; bên cạnh đó tình hình thời tiết và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân, đặc biệt là nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới và vùng tái định cư.

Trong tình hình đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các huyện, thành phố quyết liệt thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018, đồng thời ban hành Nghị quyết số 59/2017/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018; Nghị quyết số 65/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 về kế hoạch đầu tư công năm 2018; Quyết định số 45/QĐ-UBND ngày 10/01/2018 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách địa phương năm 2018... Với những đổi mới mạnh mẽ và sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự nỗ lực của các ngành, các thành phần kinh tế và nhân dân các dân tộc, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh dự ước năm 2018 tiếp tục chuyển biến tích cực với những kết quả cụ thể như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2018 ước tính tăng 5,59% so với năm 2017, trong đó 6 tháng đầu năm tăng 5,62%, mức tăng trưởng năm nay tuy không đạt mục tiêu tăng trưởng 8,5% đề ra nhưng trong bối cảnh kinh tế địa phương gặp nhiều khó khăn do thời tiết và biến đổi khí hậu thì đạt được mức tăng trưởng trên cũng đã khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các biện pháp, giải pháp được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng thực hiện.

Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 6,18%, đóng góp 1,40 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 4,33%, đóng góp 1,44 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,33%, đóng góp 2,40 điểm phần trăm; thuế sản phẩm tăng 5,67%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 3,67% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,97 điểm phần trăm vào mức tăng chung, trong đó sản xuất và phân phối điện đạt mức tăng 2,53%, đóng góp 0,57 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,87%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và hoạt động xử lý rác thải, nước thải giảm 1,69%, làm giảm 0,005 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 34,66%, làm

tăng 0,08 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung. Ngành xây dựng tăng trưởng khá với tốc độ 6,95%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Trong khu vực dịch vụ, các ngành vẫn giữ mức tăng ổn định so với cùng kỳ năm trước đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế, trong đó đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Ngành giáo dục và đào tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt mức tăng 5,52% so với năm 2017, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy năm nay có mức tăng trưởng khá cao 7,62%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm; hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội tăng 6,02%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,27%, đóng góp 0,19 điểm phần trăm...

Về cơ cấu kinh tế năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 22,28%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,44%; khu vực dịch vụ chiếm 38,11%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,17% (cơ cấu tương ứng của năm 2017 là 21,88%; 34,59%; 37,36%; 6,17%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp thuỷ sản, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.

II. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

a) Trồng trọt

Sản xuất cây hàng năm không có biến động lớn về diện tích, tổng diện tích gieo trồng năm 2018 ước đạt 234.257 ha, trong đó cây lương thực có hạt 164.399 ha, chiếm 70,2%; cây lấy củ có chất bột 38.919 ha, chiếm 16,6%; cây mía 9.451 ha, chiếm 4,0%; cây lấy sợi 98 ha, chiếm 0,04%; cây có hạt chứa dầu 2.902 ha, chiếm 1,2%; cây rau, đậu, hoa, cây cảnh 9.078 ha, chiếm 3,9%; cây gia vị, dược liệu 307 ha, chiếm 0,1%; cây hàng năm khác 9.103 ha, chiếm 3,9%. So với cùng kỳ năm trước diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm 7,2%, trong đó cây lương thực có hạt giảm 13,0%; cây lấy củ có chất bột tăng 7,4%; cây mía tăng 17,6%; cây lấy sợi tăng 180,0%; cây có hạt chứa dầu giảm 0,9%; cây rau đậu, hoa, cây cảnh tăng 12,7%; cây gia vị, dược liệu tăng 9,6%; cây hàng năm khác tăng 14,8%, diện tích gieo trồng một số cây chủ yếu như sau:

Diện tích lúa gieo trồng 50.642 ha, trong đó lúa ruộng 31.026 ha chiếm 61,3%, lúa nương 19.616 ha chiếm 38,7%, so với cùng kỳ năm trước diện tích lúa giảm 0,6%, trong đó lúa ruộng tăng 0,4%, lúa nương giảm 2,2% do trồng trên đất dốc, đầu tư thâm canh hạn chế, hiệu quả kinh tế thấp nên một số diện tích đã bị bỏ hoang và chuyển sang trồng cây khác. Năng suất lúa cả năm bình quân đạt 36,04 tạ/ha (lúa ruộng 50,46 tạ/ha; lúa nương 13,24 tạ/ha), sản lượng 182.528 tấn (lúa ruộng 156.556 tấn, lúa nương 25.972 tấn), so với cùng kỳ năm trước năng suất tăng 2,1%, sản lượng tăng 1,4%.

Diện tích ngô gieo trồng 113.757 ha, năng suất bình quân đạt 41,27 tạ/ha, sản lượng 469.464 tấn. So với cùng kỳ năm trước diện tích ngô giảm 17,6% do giá bán không ổn định, một số diện tích bỏ hoang hoặc chuyển đổi sang trồng cây ăn quả, mía, dong riềng, sắn; năng suất tăng 1,4%; sản lượng giảm 16,4%.

Diện tích các loại cây chất bột lấy củ 38.919 ha, trong đó diện tích sắn 34.826 ha, khoai lang 330 ha, khoai sọ 380 ha, dong riềng 3.383 ha. So với cùng kỳ năm trước diện tích cây chất bột tăng 7,4%, trong đó diện tích sắn tăng 8,2%; khoai lang tăng 14,2%; khoai sọ tăng 45,6%; dong riềng giảm 3,8%.

Diện tích mía hiện có 9.451 ha, năng suất 657,88 tạ/ha, sản lượng đạt 621.765 tấn (tiến độ đến 15/12 đạt 1.049 tấn). So với cùng kỳ năm trước diện tích mía tăng 17,6%, tăng chủ yếu do chuyển đổi từ diện tích ngô kém hiệu quả sang trồng mía và công ty mía đường Mai Sơn hỗ trợ và bao tiêu sản phẩm; năng suất giảm 0,2%; sản lượng tăng 17,4%.

Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển, tổng diện tích toàn tỉnh năm 2018 ước đạt 76.888 ha, trong đó cây ăn quả 47.287 ha chiếm 61,5%; cây công nghiệp 28.175 ha, chiếm 36,6%. So với cùng kỳ năm trước tổng diện tích cây lâu năm tăng 19,3%, trong đó cây ăn quả tăng 35,2%, cây công nghiệp tăng 0,1%.

Diện tích và sản lượng một số cây chủ yếu như sau: Diện tích cây chè hiện có 5.008 ha, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng chè búp đạt 44.599 tấn, tăng 7,4%; cà phê diện tích đạt 17.128 ha, giảm 2,7%, sản lượng 22.680 tấn giảm 0,4%; cao su diện tích 6.039 ha, tương đương, sản lượng đạt 1.290 tấn, tăng 149,0%; diện tích nhãn hiện có 14.659 ha tăng 26,5%, sản lượng thu hoạch 61.006 tấn, tăng 52,9%; diện tích xoài hiện có 11.580 ha tăng 48,5%, sản lượng thu hoạch 19.544 tấn, tăng 59,3%; chuối diện tích 3.907 ha, tăng 22,5%, sản lượng 31.251 tấn, tăng 25,1%; mận hiện có 8.383 ha, tăng 25,1%, sản lượng 43.530 tấn, tăng 20,9%.

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh trồng mới 7.987 ha cây ăn quả trên đất dốc và 2.221 ha cây ghép lai cho năng suất và chất lượng cao, nâng tổng diện tích cây ăn quả trồng trên đất dốc lên 26.639 ha và 10.418 ha cây lâu năm ghép lai. Diện tích cây trồng đạt tiêu chuẩn VietGap hiện có: 260 ha chè, 324 ha rau các loại, 367 ha nhãn, 105 ha mận, 50 ha xoài, 20 ha na, 17 ha cam, 09 ha hồng, 08 ha chanh leo, 05 ha thanh long, 05 ha dâu tây, 04 ha bơ và 04 ha bưởi, 01 ha vải.

b) Chăn nuôi

Chăn nuôi gia súc, gia cầm nhìn chung ổn định, không xảy ra dịch bệnh lớn. Dự ước năm 2018, đàn trâu toàn tỉnh có 137.524 con, giảm 4,0%; đàn bò 322.149 con, tăng 10,6%; đàn lợn 582.538 con, giảm 3,5%; đàn gia cầm 6.760 nghìn con, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 4.737 tấn, giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước; thịt bò 5.195 tấn, tăng 7,9%; thịt lợn 47.009 tấn, tăng 3,0%; thịt gia cầm 11.555 tấn, tăng 3,2%; sản lượng trứng đạt 63.994 nghìn quả, giảm 3,1%; sản lượng sữa tươi ước đạt 90.433 tấn, tăng 10,6%.

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra dịch lở mồm long móng trên địa bàn huyện Quỳnh Nhai, Yên Châu, Phù Yên, Bắc Yên, Sông Mã, Mộc Châu, Mai Sơn làm 3.238 con gia súc mắc bệnh, chết 66 con. Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm đạt 573.630 liều vắc xin THT trâu, bò; 727.460 liều vắc xin lở mồm long móng; 209.581 liều liều vắc xin dịch tả lợn; 126.132 liều vắc xin dại chó; 1.436.655 liều vắc xin Niu cát xơn và 106.100 liều vắc xin ung khí thán. Công tác kiểm dịch xuất và nhập gia súc, gia cầm đuợc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo kịp thời phát hiện và xử lý nhanh các trường hợp mắc bệnh, tránh dịch bệnh lây lan ra diện rộng.

2. Lâm nghiệp

Trong năm 2018, diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh ước tính đạt 2,45 nghìn ha, giảm 44,4% so với cùng kỳ năm trước nguyên nhân chủ yếu do thiếu vốn; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 300 nghìn cây, giảm 76,5%; ươm giống cây lâm nghiệp đạt 7.540 nghìn cây, giảm 52,4%; diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 20,0 nghìn ha, tăng 3,7%; rừng trồng được khoanh nuôi tái sinh 27,15 nghìn ha, tăng 5,3%; rừng được giao khoán, bảo vệ 521,20 ha, tăng 0,4%.

Sản lượng gỗ khai thác tháng IV ước tính đạt 11,7 nghìn m3, giảm 5,6%; củi khai thác ước đạt 196 nghìn ste, giảm 8,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính cả năm 2018, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 41,48 nghìn m3, giảm 2,6% (giảm chủ yếu từ khai thác rừng tự nhiên, do thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về đóng cửa rừng); củi khai thác đạt 887,56 nghìn ste, tăng 0,1% so với cùng kỳ.

Mặc dù công tác quản lý, bảo vệ rừng được quan tâm thực hiện nhưng các vụ vi phạm lâm luật vẫn xảy ra. Trong năm 2018, toàn tỉnh xảy ra 440 vụ vi phạm lâm luật với tổng số tiền phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 2.819 triệu đồng, giảm 10,6% và 13,7% so với cùng kỳ năm trước, (do các cấp, các ngành quan tâm, thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng); diện tích rừng bị thiệt hại 23,1 ha, giảm 16,5%, trong đó diện tích rừng bị cháy 6,6 ha, tăng 28,2%; diện tích rừng bị chặt phá 16,5 ha, giảm 26,8%.

3. Thuỷ sản

Nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu là nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến, đầu tư thâm canh còn hạn chế. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản toàn tỉnh ước năm 2018 đạt 2.715 ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá 2.687 ha, tăng 1,0% (do đã mở rộng diện tích và khắc phục được diện tích bị ảnh hưởng do mưa lũ năm trước). Số lồng bè nuôi trồng thủy sản đạt 9.543 chiếc, tăng 7,2% với thể tích 804.569 m3, tăng 6,6% (do có chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ sản lồng bè)

Sản lượng thuỷ sản quý IV ước tính đạt 1.892 tấn, giảm 12,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng 1.497 tấn, giảm 15,0%; sản lượng khai thác 395 tấn, giảm 1,4%.

Ước tính cả năm 2018, sản lượng thủy sản ước tính đạt 7.677 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng 6.464 tấn, tăng 3,0%; khai thác 1.213 tấn, tăng 3,2%. Sản lượng giống thủy sản đạt 97,5 triệu con, giảm 18,1%.

Nhìn chung sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2018 ổn định. Diện tích cây hàng năm giảm so với năm 2017 do một số diện tích trồng lúa nương, ngô đã chuyển sang trồng cây khác và một số diện tích bị bỏ hoang. Diện tích cây lâu năm phát triển khá so với cùng kỳ chủ yếu do chuyển đổi từ một số diện tích hiệu quả kinh tế thấp sang trồng cây ăn quả trên đất dốc. Chăn nuôi gia súc, gia cầm tương đối ổn định, ít dịch bệnh, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn. Sản xuất lâm nghiệp được duy trì, công tác chăm sóc và khoanh nuôi tái sinh được quan tâm. Sản xuất thuỷ sản phát triển, do có chính sách hỗ trợ hợp tác xã nuôi trồng thuỷ sản và các sản phẩm nuôi trồng đã đến kỳ thu hoạch.

III. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 12 ước tính giảm 24,4% so với tháng trước và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 14,2% và giảm 34,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,2% và tăng 22,1%; sản xuất và phân phối điện giảm 29,4% và tăng 2,3%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,1% và giảm 4,7%.

Tính chung cả năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước (quý III giảm 5,4%, quý IV giảm 1,5%). Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,0% (quý III tăng 7,9%, quý IV tăng 16,9%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,0% (từ tốc độ tăng 49,5% trong quý I, tăng 7,8% trong quý II, giảm mạnh trong quý III với mức giảm 6,2% và quý IV giảm 3,8% chủ yếu do sản lượng điện phát ra của Công ty Thủy điện Sơn La giảm); 02 ngành có chỉ số sản xuất giảm là ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,0%; ngành khai khoáng giảm 21,8%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất cả năm 2018 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp: In, sao chép bản ghi các loại tăng 25,2%; dệt tăng 21,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 12,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 9,9%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,0%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 2,6%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu giảm 25,7%; khai khoáng khác giảm 21,8%; sản xuất đồ uống giảm 26,9%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 45,7%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 69,9%.

Ước tính cả năm 2018, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất ra tăng cao so với cùng kỳ năm trước: mật đường tăng 49,5%; sản phẩm in khác tăng 28,4%; sữa chua, sữa và kem lên men hoặc axít hoá tăng 22,6%; đường chưa luyện tăng 17,8%; xi măng tăng 11,6%; điện thương phẩm tăng 6,7%; điện sản xuất tăng 4,5% (trong đó: Thuỷ điện Sơn La tăng 2,0%, thuỷ điện Huội Quảng tăng 2,9%). Tuy nhiên có một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác tăng 2,9%; chè nguyên chất tăng 1,0%; nước uống được giảm 2,6%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế giảm 18,8%; đá xây dựng các loại giảm 20,1%; nước tinh khiết giảm 22,4%; bia hơi giảm 34,4%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2018 tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 39,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung từ đầu năm đến nay, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 183,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 36,8%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 24,8%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,2%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,5%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Sản xuất đồ uống giảm 26,7%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 56,7%; dệt giảm 92,5%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 12/2018 tăng 80,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 41,4%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 78,2%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Dệt tăng 3,4 lần; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 1,6 lần.

Nhìn chung tăng trưởng ngành công nghiệp năm 2018 chủ yếu dựa vào ngành chế biến, chế tạo, sản xuất và phân phối điện; tình hình tiêu thụ sản phẩm công nghiệp thuận lợi; tuy nhiên tăng trưởng công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn chủ yếu tăng về bề rộng (tăng số doanh nghiệp, tăng vốn đầu tư và thu hút lao động), trong khi năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn hạn chế. Để sản xuất công nghiệp phát triển ổn định, các Sở, ban, ngành cần tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nhất là vấn đề về vốn, tiêu thụ sản phẩm, cước phí vận tải để doanh nghiệp ổn định và đẩy mạnh sản xuất, tập trung vào các sản phẩm chủ lực của tỉnh như: xi măng, chè, sữa chế biến, sản xuất điện; các cơ sở sản xuất công nghiệp cần khai thác tốt năng lực hiện có, đẩy mạnh tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, giữ vững các thị trường truyền thống, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình công nghiệp trọng điểm để nâng cao năng lực sản xuất.

IV. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng 12, toàn tỉnh có 32 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 252,0 tỷ đồng, vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7,9 tỷ đồng. Trong tháng có 02 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và 02 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh.

Lũy kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh có 300 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 2.714,0 tỷ đồng, giảm 5,7% về số doanh nghiệp và giảm 14,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,1 tỷ đồng, giảm 9,1%. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động là 63 doanh nghiệp, tăng 18,9%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 41 doanh nghiệp, tăng 51,9%.

V. HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ

1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa

Hoạt động thương mại dịch vụ năm nay khá sôi động, công tác quản lý điều hành bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn giá cả trên thị trường được các cấp, các ngành chỉ đạo kịp thời, hiệu quả. Bên cạnh đó công tác khuyến khích, động viên, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa Việt Nam có chất lượng, giá cả hợp lý luôn được quan tâm; tăng cường tổ chức mạng lưới bán hàng tại các huyện, thành phố; kết nối giữa nhà sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tổ chức tốt các hội chợ, lễ hội, khai trương trung tâm thương mại đầu tiên với phương thức bán hàng đa dạng, phong phú… đã góp phần đẩy mạnh hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh, kích thích sức mua của người tiêu dùng.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 12 ước tính đạt 1.703.596 triệu đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm ngành hàng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước đều tăng, so với tháng trước các nhóm ngành hàng tăng từ 0,5% đến 1,0%, so với cùng kỳ năm trước tăng từ 7,4% đến 10,7%.

Ước tính cả năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 19.407.768 triệu đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, (quý III tăng 11,1%, quý IV tăng 9,3%), trong đó: Nhóm sửa chữa xe xó động cơ, môtô, xe máy và nhóm ô tô các loại tăng 11,1%; xăng, dầu các loại tăng 10,8%; lương thực, thực phẩm tăng 10,6%; phương tiện đi lại tăng 10,4%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 10,3%; các nhóm ngành hàng khác tăng từ 8,7% đến 9,8%.

2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12 ước tính đạt 462.995 triệu đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 13.329 triệu đồng, tăng 1,7% và tăng 10,4%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 1.719.616 triệu đồng, tăng 0,6% và tăng 12,1%; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 1.829 triệu đồng, tăng 2,5% và 10,3%; doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác đạt 301.212 triệu đồng, tăng 0,8% và 9,1%.

Ước tính cả năm 2018, doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 5.411.481 triệu đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 175.000 triệu đồng, tăng 6,4%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 1.719.616 triệu đồng, tăng 8,2%; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 15.200 triệu đồng, giảm 8,4%; doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác đạt 3.501.665 triệu đồng tăng 8,4%.

3. Vận tải hành khách và hàng hoá

Vận tải hành khách trên địa bàn ổn định, mặc dù chịu ảnh hưởng của nhiều đợt mưa lớn kéo dài, gió lốc, lũ quét xảy ra gây ngập, sạt lở, ách tắc giao thông, song với sự chỉ đạo chặt chẽ, quyết liệt của UBND tỉnh và sự cố gắng, nỗ lực của các địa phương, các sở, ban, ngành trong quá trình tổ chức triển khai đã khắc phục được khó khăn, đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển và đi lại của nhân dân. Vận tải hành khách tháng 12 ước tính đạt 478 nghìn lượt khách và 47.603 nghìn lượt khách.km, tăng 8,9% và 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính cả năm 2018, vận tải hành khách đạt 4.091 nghìn lượt khách, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước và 399.217 nghìn lượt khách.km, tăng 13,8%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 3.626 nghìn lượt khách, tăng 11,9% và 394.193 nghìn lượt khách.km, tăng 13,7%.

Doanh thu vận tải hành khách tháng 12 ước tính đạt 21.151 triệu đồng, tăng 39,6% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính cả năm 2018, doanh thu vận tải hành khách đạt 337.188 triệu đồng, tăng 9,2%, trong đó doanh thu vận tải hành khách đường bộ 325.172 triệu đồng, tăng 9,0% so với cùng kỳ năm 2017.

Vận tải hàng hóa tháng 12 ước tính đạt 502 nghìn tấn và 57.726 nghìn tấn.km, tăng 9,9% và 24,2% so với cùng kỳ năm trước, Ước tính cả năm 2018, vận tải hàng hóa đạt 5.058 nghìn tấn, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước và 579.647 nghìn tấn.km, tăng 12,9%, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ đạt 4.995 nghìn tấn, tăng 10,7% và 577.569 nghìn tấn.km, tăng 12,9%.

Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 12 ước tính đạt 151.091 triệu đồng, tăng 21,9% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính cả năm 2018, doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.693.714 triệu đồng, tăng 11,8%, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa đường bộ 1.684.058 triệu đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 12 ước tính đạt 5.851 triệu đồng, tăng 35,0% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính cả năm 2018, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 50.331 triệu đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bốc xếp hàng hóa đạt 1.041 triệu đồng, tăng 29,6%; doanh thu hoạt động khác 49.290 triệu đồng, tăng 16,4%.

4. Bưu chính viễn thông

Hoạt động bưu chính viễn thông duy trì bảo đảm thông suốt, an toàn, chất lượng ngày một nâng lên, phục vụ kịp thời, hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh. Doanh thu bưu chính viễn thông

Doanh thu bưu chính viễn thông năm 2018 ước đạt 1.201.656 triệu đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 900.150 thuê bao, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thuê bao di động đạt 853.502 thuê bao, giảm 5,3%; thuê bao cố định đạt 46.648 thuê bao, giảm 5,4%. Số thuê bao Internet ước đạt 64.750 thuê bao (trong đó phát triển mới 7.562 thuê bao), tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2017.

VI. VỐN ĐẦU TƯ

Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn quý IV năm 2018 theo giá hiện hành ước đạt 5.678.104 triệu đồng, tăng 60,8% so với quý trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước tăng 36,3% và tăng 2,6%; vốn trái phiếu Chính phủ tăng 136,5% và tăng 74,9%; vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch NN giảm 68,5% và giảm 91,5%; vốn vay từ các nguồn khác (của khu vực Nhà nước) tăng 45,8% và giảm 33,5%; vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nướ (Vốn tự có) tăng 2,5% và tăng 66,9%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân tăng 68,8% và tăng 14,1%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 5,2 lần và tăng 4,3 lần; vốn huy động khác tăng 15,8% và tăng 4,9%.

Ước tính năm 2018, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn đạt 15.925.647 triệu đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước và đạt 109,8% so với kế hoạch năm, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 5.921.893 triệu đồng, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 9.931.041 triệu đồng, tăng 9,11%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 72.713 triệu đồng.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước ước tính đạt 2.974.087 triệu đồng, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn trung ương quản lý đạt 214.032 triệu đồng, giảm 48,59%; vốn địa phương quản lý đạt 2.760.055 triệu đồng, tăng 15,39%.

Trong vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước, vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước 4.811.371 triệu đồng, tăng 10,14%; vốn đầu tư của dân cư 5.119.670 triệu đồng, tăng 8,15% so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung tình hình thực hiện vốn đầu tư năm 2018 với sự chỉ đạo chặt chẽ, quyết liệt của UBND tỉnh và sự cố gắng, nỗ lực của các địa phương, các sở, ban, ngành trong quá trình tổ chức triển khai, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tăng khá so với cùng kỳ năm trước và vượt so với kế hoạch năm đề ra. Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại hạn chế cần khắc phục như: Tiến độ giải ngân thanh toán một số nguồn vốn chậm, nhu cầu thanh toán nợ các dự án, công trình lớn trong khi nguồn vốn ngân sách địa phương hạn hẹp, nhiều dự án thiếu vốn dẫn đến tiến độ thi công kéo dài… Để đảm bảo tiến độ và chất lượng các chương trình, dự án Ủy ban nhân dân các cấp cần tập trung chỉ đạo tháo gỡ những vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân thanh toán các nguồn vốn, kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực đã được phê duyệt; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các sở, ngành, các đơn vị, chủ đầu tư trong thực hiện kế hoạch vốn đầu tư; thực hiện chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư và xây dựng gắn với xem xét trách nhiệm quản lý của người đứng đầu; đối với từng dự án khi có khối lượng hoàn thành khẩn trương nghiệm thu, hoàn thiện hồ sơ thanh toán để kịp thời giải ngân thanh toán các nguồn vốn được giao theo đúng kế hoạch, trong đó ưu tiên cho dự án khắc phục hậu quả do mưa lũ...

VII. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

1. Thu, chi ngân sách nhà nước

Năm 2018 trong điều kiện kinh tế của tỉnh có nhiều khó khăn, diễn biến về thiên tai, khí hậu phức tạp, UBND tỉnh đã tăng cường chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp quản lý thu, nhất là các nguồn thu từ kinh doanh công thương nghiệp - dịch vụ, các khoản thu từ đất, thu nợ đọng thuế, chống thất thu, gian lận thương mại, trốn thuế. Công tác thu, chi ngân sách cơ bản đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và tăng cường đối ngoại của tỉnh. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2018 ước đạt 17.285,6 tỷ đồng, bằng 129,5% dự toán năm, và tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 8.136,7 tỷ đồng, bằng 177,5%, tăng 30,8%; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên đạt 9.088,3 tỷ đồng, bằng 103,7%, giảm 9,9%. Trong thu cân đối ngân sách nhà nước, thu nội địa ước đạt 5.030,0 tỷ đồng, bằng 113,0 % dự toán năm và tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước, trong các khoản thu nội địa, có 09 khoản thu đạt trên 113,0% so với dự toán năm bao gồm: Thu tại xã đạt 244,6%; thu tiền sử dụng đất đạt 168,7%; thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 164,4%; thu cấp quyền khai thác tại nguyên nước đạt 155,0%; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 144,3%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 138,5%; thu cổ tức, lợi nhuận được chia và lợi nhuận còn lại đạt 127,8%; thu tiền thuê đất đạt 127,0%; lệ phí trước bạ đạt 118,1%.

Chi ngân sách tập trung bố trí phục vụ tốt mục tiêu tăng trưởng kinh tế và các cân đối lớn, thực hiện triệt để tiết kiệm trong chi dùng ngân sách, mua sắm tài sản, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ an sinh xã hội, thực hiện các chế độ, chính sách, phòng chống và cứu trợ thiên tai. Tổng chi ngân sách địa phương năm 2018 ước đạt 14.926,8 tỷ đồng, bằng 113,9% dự toán năm và giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chi thường xuyên đạt 10.385,6 tỷ đồng, bằng 116,0%, tăng 17,4%; chi đầu tư phát triển đạt 1.940,9 tỷ đồng, bằng 126,0%, tăng 18,4%; chi chương trình mục tiêu quốc gia, hỗ trợ mục tiêu đạt 2.285,9 tỷ đồng, bằng 110,4%, giảm 3,8%.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tài chính ngân sách năm 2017 vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắc phục như: Thu ngân sách trên địa bàn mặc dù tăng so với năm 2017, song chất lượng thu ngân sách còn hạn chế, thu thuế, phí còn gặp khó khăn; tình trạng nợ thuế lớn, kéo dài chưa xử lý giải quyết triệt để, vẫn còn phát sinh nợ thuế mới.

2. Thu chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng, tín dụng

Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn ổn định, thực hiện nghiêm túc các quy định về lãi suất huy động, lãi suất cho vay và các quy định về kinh doanh vàng, ngoại tệ; tăng cường công tác huy động vốn, thực hiện các giải pháp mở rộng tín dụng có hiệu quả góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh; ưu tiên tập trung vốn cho các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, kinh tế tập thể, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu...

Tổng thu tiền mặt qua quỹ ngân hàng năm 2018 ước thực hiện 100.236 tỷ đồng, tổng chi tiền mặt ước thực hiện 101.323 tỷ đồng, bội chi 1.087 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước tổng thu tiền mặt tăng 7,4%, tổng chi tiền mặt tăng 5,4%.

Dư nợ tín dụng ước đạt 34.000 tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dư nợ ngắn hạn đạt 15.500 tỷ đồng, tăng 16,9%; dư nợ trung dài hạn đạt 18.500 tỷ đồng, tăng 14,1%. Trong tổng dư nợ, dư nợ cho vay các đối tượng chính sách đến 30/11 là 3.950 tỷ đồng chiếm 11,6%; nợ xấu toàn địa bàn 259 tỷ đồng chiếm 0,8%.

Huy động vốn tại địa phương ước đạt 17.000 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tiền gửi tiết kiệm 13.840 tỷ đồng, tăng 17,8%; tiền gửi các tổ chức kinh tế 3.100 tỷ đồng, giảm 10,7%; tiền gửi giấy tờ có giá 60 tỷ đồng, giảm 49,8%.

VIII. XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

1. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 ước tính đạt 14.477,6 nghìn USD, tăng 62,8% so với cùng kỳ năm trước, tăng chủ yếu do xuất khẩu chè đạt 10.963,3 nghìn USD, tăng 36,8% (mặt hàng này chiếm tới 75,7% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu); xuất khẩu hạt rau quả các loại đạt 1.460,7 nghìn USD, tăng 55,8 lần; xuất khẩu ngô giống đạt 352,5 nghìn USD, tăng 204,9%; xuất khẩu xi măng đạt 128,3 nghìn USD, tăng 84,6%. Một số mặt hàng xuất khẩu giảm như: Xuất khẩu tơ tằm đạt 464,2 nghìn USD, giảm 22,3%; lõi ngô ép đạt 28,6 nghìn USD, giảm 61,2%. Riêng xuất khẩu hàng dệt may đạt 1.080,0 nghìn USD, năm 2017 không phát sinh. Thị trường xuất khẩu năm 2018, Apganixtan là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 9.079,3 nghìn USD; tiếp đến là Đài Loan đạt 1.837,6 nghìn USD; Ấn Độ đạt 1.544,2 nghìn USD; Nhật Bản đạt 1.460,7 nghìn USD; Lào đạt 480,8 nghìn USD; Trung Quốc đạt 46,4 nghìn USD; Hàn Quốc đạt 28,6 nghìn USD.

2. Nhập khẩu hàng hóa

Dự ước kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2018 đạt 29.313,9 nghìn USD, giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước, các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu giảm mạnh: phân bón đạt 3.782,2 nghìn USD, giảm 51,0%; hàng hóa khác đạt 6.768,2 nghìn USD giảm 10,4%. Một số mặt hàng nhập khẩu tăng: Máy móc thiết bị đạt 16.952,5 nghìn USD, tăng 15,5%; nhập khẩu cỏ Anphapha đạt 1.811,0 nghìn USD, tăng 23,6%.

IX. CHỈ SỐ GIÁ

1. Chỉ số giá tiêu dùng

Công tác kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành các quy định pháp luật về giá, các quy định về điều chỉnh giá, kê khai, niêm yết giá và bán hàng theo giá niêm yết tiếp tục được tăng cường đã góp phần quan trọng bình ổn giá cả thị trường. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2018 tăng 0,03% so với tháng trước, trong đó khu vực thành thị tăng 0,04%, khu vực nông thôn tăng 0,02%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 06 nhóm có chỉ số giá tăng so với tháng trước: thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,74%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,81% (do thời tiết rét đậm kéo dài, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng giầy, dép, quần áo, mũ nón tăng cao); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,23% (lương thực tăng 0,47%, thực phẩm tăng 0,18%); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,01%. Có 02 nhóm có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Giao thông giảm mạnh 4,22% (do nhóm mặt hàng xăng, dầu giảm 10,77% theo Quyết định điều chỉnh tăng giá dầu vào ngày 06/12 và ngày 21/12/2018 của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, bình quân mỗi lít xăng giảm 2.300 đồng/lít, mỗi lít dầu giảm 1.690 đồng/lít); nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,39% (do giá gas giảm). Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số ổn định. So với tháng 12/2017, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2018 tăng 2,52%.

Chỉ số giá tiêu dùng chung bình quân năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,14% (quý IV tăng 2,67%). Hầu hết các nhóm, ngành hàng hoá và dịch vụ có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm giáo dục tăng cao nhất, tăng 7,52% (trong đó dịch vụ giáo dục tăng 10,63%); giao thông tăng 5,83%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 3,05%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 2,29%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,14%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,38%; thuốc và dụng cụ y tế tăng 1,36% (trong đó dịch vụ y tế tăng 1,09%); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,23%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,98%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,58%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,04%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2018 tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (1) Thực hiện Nghị định số 141/2017/NĐ-CP ngày 07/12/2017 về việc Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động áp dụng từ ngày 01/01/2018; (2) Thực hiện tăng học phí theo Nghị quyết số 79/2018/NQ-HĐND và Nghị quyết số 126/2015/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh; (3) giá dịch vụ y tế tăng 6,74% theo Thông tư số 39/2018/TT-BYT ngày 30/11/2018 về Quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp áp dụng từ ngày 15/12/2018.

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI trong năm 2018, có một số yếu tố góp phần kiềm chế CPI như: (1) Giá thịt gia súc tươi sống giảm mạnh vào những tháng đầu năm; (2) Giá xăng, dầu được điều chỉnh tăng 12 lần và giảm mạnh 11 lần gây ảnh hưởng lớn đến chỉ số giá tiêu dùng chung.

2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

So với cùng kỳ năm trước chỉ số giá vàng bình quân 12 tháng tăng 0,02% và giá USD tăng 1,27%. Sau 12 tháng (so với tháng 12/2017) chỉ số giá vàng giảm 0,44% và giá USD tăng 2,67%.

X. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số và lao động

Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2018 ước tính 1.242,7 nghìn người, tăng 1,4% (16,8 nghìn người) so với cùng kỳ năm trước, bao gồm dân số thành thị 169,8 nghìn người, chiếm 13,7%; dân số nông thôn 1.072,9 nghìn người, chiếm 86,3%; dân số nam 625,6 nghìn người, chiếm 50,3%; dân số nữ 617,1 nghìn người, chiếm 49,7%.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2018 ước tính 760,6 nghìn người, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thành thị 92,1 nghìn người, tăng 0,6%, nông thôn 668,5 nghìn người tăng 0,7%; nam 369,0 nghìn người, tăng 0,7%, nữ 391,6 nghìn người tăng 0,7%.

2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống công chức, viên chức và người hưởng bảo hiểm xã hội nhìn chung ổn định, thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động khu vực nhà nước 4.100 nghìn đồng, khu vực doanh nghiệp nhà nước 5.600 nghìn đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.800 nghìn đồng và doanh nghiệp ngoài Nhà nước 3.400 nghìn đồng.

Đời sống dân cư nông thôn được cải thiện nhưng còn thiếu bền vững, tình trạng thiếu đói giáp hạt vẫn xảy ra tại các huyện Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Mường La, Bắc Yên, Phù Yên, Mộc châu, cao điểm trong tháng 02/2018 với 5.276 hộ và 22.288 nhân khẩu; UBND các huyện đã hỗ trợ các hộ 290,79 tấn gạo để khắc phục tình trạng thiếu đói.

Năm 2018 ước tính tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 25,44% (theo chuẩn tiếp cận đa chiều giai đoạn năm 2016-2020).

Công tác an sinh, xã hội và xóa đói, giảm nghèo tiếp tục được quan tâm thực hiện. Ngân hàng Chính sách xã hội đã thực hiện các chương trình cho vay đối với 35.658 lượt hộ, tổng số tiền 1.100.286 triệu đồng; toàn tỉnh đã cấp 813.322 thẻ BHYT cho các đối tượng chính sách bảo trợ xã hội và 152.000 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi; hỗ trợ 2.354,6 tấn gạo cho học sinh và trường ở xã đặc biệt khó khăn trong học kỳ I năm học 2018-2019; trợ cấp thường xuyên cho 29.143 đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP; cấp 1.432.308 tờ báo và cuốn tạp chí cho đồng bào vùng dân tộc, miền núi theo Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 16/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Trao tặng 50.553 suất quà trị giá 19.485 triệu đồng, 102 sổ tiết kiệm trị giá 242 triệu đồng, xây dựng 08 nhà tình nghĩa; giúp đỡ 12.253 ngày công lao động cho các đối tượng chính sách nhân dịp Tết cổ truyền và kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ. Bên cạnh đó, các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân đã hỗ trợ các đối tượng chính sách, hộ nghèo, thiệt hại do mưa lũ, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn… giá trị hơn 6,3 tỷ đồng; phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ trẻ em khuyết tật Việt Nam tổ chức khám sàng lọc cho 713 trẻ em khuyết tật và phẫu thuật cho 142 trường hợp; phối hợp với Bệnh viện Tim Hà Nội khám sàng lọc cho 146 trẻ em bị tim bẩm sinh.

Công tác tư vấn việc làm đạt 8.701 lượt người, trong đó có 3.800 lao động đi làm việc tại các doanh nghiệp ngoài tỉnh, 22 người tham gia xuất khẩu sang thị trường nước ngoài; chuyển đổi và tạo việc làm cho 23.150 lao động; tuyển sinh đào tạo dạy nghề đạt 19.542 học viên, tốt nghiệp 18.404 người. Thực hiện tốt các chính sách về bảo hiểm thất nghiệp với 1.539 đối tượng được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Thực hiện chương trình nông thôn mới toàn tỉnh có 188/188 xã, trong đó 21 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 07 xã đạt 15-18 tiêu chí; 44 xã đạt từ 10-14 tiêu chí; 111 xã đạt từ 5-9 tiêu chí.

3. Giáo dục và đào tạo

Ngành Giáo dục đã tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kết thúc các nhiệm vụ năm học 2017-2018; triển khai nhiệm vụ năm học 2018-2019. Tổ chức thành công kỳ thi học sinh giỏi THCS và chọn học sinh giỏi THPT Quốc gia tại tỉnh; cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học cấp tỉnh; tổ chức thi và cấp chứng chỉ nghề phổ thông cho 10.705 học sinh THPT và THCS; tổ chức kỳ thi THPT quốc gia, toàn tỉnh có 10.442 thí sinh dự thi với tỷ lệ tốt nghiệp đạt 97,3%.

Kết thúc năm học 2017-2018, toàn tỉnh có 2.015 học sinh bỏ học; 51.758 học sinh phổ thông và giáo dục thường xuyên hoàn thành cấp học, trong đó: tiểu học 23.893 học sinh, trung học cơ sở 18.492 học sinh; trung học phổ thông 8.150 học sinh, bổ túc trung học phổ thông 1.223 học sinh. 12 huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 05 tuổi, chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và giáo dục THCS mức độ 01; trên địa bàn tỉnh hiện có 285/828 trường đạt chuẩn quốc gia, 53/828 trường đạt chuẩn chất lượng giáo dục.

Triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2018 - 2019. Toàn tỉnh có 466 trường học phổ thông các cấp; 258.814 học sinh và 12.918 giáo viên. Toàn tỉnh huy động được 20,6% số trẻ trong độ tuổi ra nhà trẻ; 97,0% số trẻ trong độ tuổi mẫu giáo ra lớp và huy động hầu hết học sinh trong độ tuổi vào lớp 1, lớp 6. Các trường Đại học, Cao đẳng, Cao đẳng nghề và Trung cấp chuyên nghiệp tuyển mới 3.325 sinh viên, trong đó: Hệ đại học chính quy 494 sinh viên; hệ cao đẳng 937 sinh viên; hệ trung cấp 1.104 sinh viên.

4. Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Ngành Y tế tăng cường chỉ đạo về phòng chống dịch bệnh, thực hiện tốt việc theo dõi, giám sát, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các trường hợp mắc bệnh, đặc biệt là sốt xuất huyết, dịch sởi, tiêu chảy cấp, cúm A(H7N9); tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh…Số người nhiễm HIV186 trường hợp; tử vong do AIDS 80 trường hợp; ngộ độc thực phẩm 1.435 trường hợp, không có tử vong, trong đó mắc theo vụ 11 vụ, 463 trường hợp.

Thực hiện tốt công tác khám, điều trị, cấp cứu, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ. Tổng số lượt khám bệnh tại các cơ sở y tế từ đầu năm đến nay đạt 1.523.250 lượt; số bệnh nhân điều trị nội trú 204.861 người; số bệnh nhân điều trị ngoại trú 800.580 người; số bệnh nhân chuyển tuyến 111.548 lượt, trong đó chuyển về Trung ương 6.969 lượt. Tiếp tục tổ chức triển khai có hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế về lĩnh vực y tế. Triển khai Chiến dịch truyền thông bảo đảm an toàn thực phẩm dịp Tết Nguyên đán từ ngày 10/01/2015 đến 30/3/2015; tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh trước, trong và sau Tết; đặc biệt lưu ý các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm phục vụ tết như: bánh, mứt, kẹo, bia rượu, nước giải khát, thịt, thực phẩm chế biến sẵn (giò, chả, nem chạo, ...), kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng các chất phụ gia trong chế biến thực phẩm, thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa phương nhằm giảm tối đa số vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trong dịp tết. Tăng cường kiểm tra, giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có quy mô lớn, tại các chợ đầu mối, các điểm diễn ra những hoạt động văn hóa (hoạt động mừng xuân Ất Mùi, hội chợ xuân…).

5. Văn hóa, thông tin, thể thao

Hoạt động văn hóa, thông tin từ đầu năm đến nay tập trung tổ chức các hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước và của tỉnh. Các hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức dưới nhiều hình thức và nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân: Chương trình nghệ thuật "Chào năm 2018", "Bản tình ca bên Sông Đà", "Hoa đào vùng cao", "Bản tình ca mùa xuân", "Sắc xuân Sơn La", "Khúc giao mùa", "Quỳnh Nhai ngày mở hội"; gameshow "Về bản em"; các triển lãm ảnh tuyên truyền chủ đề: "Biển đảo và người chiến sỹ Hải quân, Sơn La chung sức xây dựng và bảo vệ chủ quyền biên giới biển đảo của Tổ quốc", kỷ niệm 50 năm "cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 - bước ngoặt lịch sử", "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - những bằng chứng lịch sử và pháp lý", "Thể thao Sơn La một chặng đường phát triển", "Thành tựu phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng tỉnh Sơn La giai đoạn 2013 - 2018", "70 năm Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La thực hiện lời kêu gọi thi đua Ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh'; các chuyên mục di sản văn hoá với chủ đề: "Di tích lưu niệm Trung đoàn 52 Tây tiến", "Gốm Mường Chanh", "Sắc màu văn hoá Thái Sơn La"; tổ chức thành công "Ngày hội xoài Yên Châu", "Ngày hội nhãn Sông Mã"...

Từ đầu năm đến nay đã tổ chức chiếu phim 4.635 buổi, phục vụ 950.139 lượt người xem; thực hiện tuần phim kỷ niệm 88 năm thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, mừng xuân Mậu Tuất, kỷ niệm 65 năm ngày Bác Hồ ký sắc lệnh thành lập ngành điện ảnh; tổ chức 2.050 buổi tuyên truyền cổ động, biên tập 23 tài liệu, thu thanh và phát hành 129 đĩa CD, sáng tác và sưu tầm 25 mẫu tranh cổ động; phục vụ 399.000 lượt khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh và các điểm di tích.

Tổ chức thành công Đại hội TDTT tỉnh Sơn La lần thứ VIII năm 2018 với 560 VĐV thuộc 12 huyện, thành phố, 06 ngành, đơn vị lực lượng vũ trang và các trường chuyên nghiệp tham gia. Tổ chức thành công Giải thể thao người khuyết tật; giải cầu lông thanh thiếu niên; giải Teakondo và giải cầu lông trung cao tuổi toàn tỉnh năm 2018; giải bóng bàn toàn tỉnh năm 2018. Tham gia vô địch đẩy gậy lần thứ XII và kéo co toàn quốc tại tỉnh Bình Phước; giải vô địch trẻ và thiếu niên võ cổ truyền toàn quốc tại tỉnh Sóc Trăng; giải thể thao người khuyết tật toàn quốc tại Thành phố Đà Nẵng; giải cầu lông trung, cao tuổi toàn quốc năm 2018 tại tỉnh Quảng Ngãi.

Trong hoạt động thể thao thành tích cao, từ đầu năm đến nay đã tham gia 32 giải đấu khu vực và toàn quốc đạt được 107 huy chương các loại, trong đó: 27 HCV, 33 HCB và 47 HCĐ. Trọng tâm nổi bật là môn điền kinh tham gia giải vô địch trẻ tại Thái Lan đạt 01 HCB, 09 lượt VĐV cấp I; 07 lượt VĐV được phong kiện tướng quốc gia; môn Pencaksilat tham gia giải vô địch Châu Á đạt 01 HCV, 01 HCĐ, 18 VĐV được phong kiện tướng quốc gia, 14 VĐV cấp I.

Phát thanh tiếng phổ thông thực hiện 1.095 chương trình, sử dụng 6.955 tin, bài, phóng sự và 1.407 chuyên đề, chuyên mục; tiếng dân tộc 1.460 chương trình, sử dụng 6.612 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt, 1.560 chuyên đề, chuyên mục.

Truyền hình tiếng phổ thông thực hiện 3.299 chương trình, sử dụng 12.838 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt và 2.880 chuyên đề, chuyên mục; tiếng dân tộc 834 chương trình, sử dụng 6.928 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt và 606 chuyên đề, chuyên mục; 104 chương trình cộng tác với VTV.

6. Công tác phòng chống ma tuý

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo 2968 đến nay toàn tỉnh có 8.734 người nghiện ma tuý đang trong diện quản lý, trong đó có 1.679 người đang cai nghiện tập trung tại các cơ sở điều trị nghiện ma túy (trong đó 1.631 trường hợp cưỡng chế, 20 tự nguyện, 27 hỗ trợ cắt cơn), 1.343 người đang điều trị bằng Methadone. Hiện trên địa bàn tỉnh còn 09 điểm, 58 đối tượng có biểu hiện bán lẻ, chứa chấp, tổ chức sử dụng ma túy ở 30 tổ, bản thuộc 17 xã, thị trấn.

7. An toàn giao thông

Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 115 vụ tai nạn, va chạm giao thông, làm 64 người chết và 102 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 20,7%, số người chết giảm 16,9%, số người bị thương giảm 28,2%.

8. Thiệt hại do thiên tai

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra rét đậm, rét hại cùng mưa đá, gió lốc, lũ quét, sạt lở đất gây thiệt hại về người và tài sản, ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể: 21 người chết, 01 người mất tích, 18 người bị thương; 6.373 ngôi nhà bị thiệt hại, hư hỏng, tốc mái, phải di dời khẩn cấp; 61 trường/điểm trường bị thiệt hại; 4.682 ha cây hàng năm (trong đó lúa 2.635 ha, ngô và hoa màu 1.930 ha), 1.324 ha cây lâu năm (trong đó cây ăn quả 306 ha), 2.136 con gia súc, 3.624 con gia cầm, 333 ha diện tích nuôi trồng và 75 tấn cá bị thiệt hại; 62 cột điện bị gãy đổ, 1.945 m dây điện bị đứt; nhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, giao thông nông thôn bị sạt lở, hư hỏng với chiều dài 20.409 m, khối lượng đất đá 2.246.925 m3... Thiệt hại ước tính 1.271,3 tỷ đồng.

Công tác khắc phục: Đã kịp thời khắc phục các thiệt hại về y tế, trường học, nước sinh hoạt, thực hiện bố trí sắp xếp ổn định chỗ ở cho 494 hộ dân; đảm bảo giao thông không bị ách tắc kéo dài, kè rọ thép 1.586 m đường, hót sụt, sa bồi 1,028 triệu m3 đất đá. Đến nay đã hỗ trợ và tiếp nhận trên 30.347,6 triệu đồng; hơn 05 tấn gạo, 70 bộ "thiết bị đo lượng mưa vượt ngưỡng - cảnh báo", 07 chiếc loa cầm tay và nhiều vật dụng khác.

9. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Theo báo cáo của Công an tỉnh, luỹ kế từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra, đã phát hiện 408 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, trong đó xử lý 404 vụ với tổng số tiền phạt 1.905 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 32 vụ cháy, nổ làm 01 người chết, 03 người bị thương, thiệt hại ước tính 3.705 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ giảm 8,6%; số người chết giảm 75,0% và thiệt hại ước tính giảm 17,9%.

Khái quát lại, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2018 tiếp tục diễn biến tích cực; sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản được duy trì ổn định; môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện; thị trường hàng hoá phát triển, cân đối cung cầu và lưu thông hàng hoá thông suốt; đời sống các tầng lớp dân cư ổn định; công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện; các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao có nhiều tiến bộ. Bên cạnh những mặt tích cực, kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn đối mặt với những khó khăn, thách thức: Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng, thiệt hại của thiên tai, thời tiết diễn biến phức tạp, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; tiến độ triển khai thực hiện một số chương trình, dự án, nguồn vốn chậm, giải ngân thanh toán đạt thấp; kết quả huy động các nguồn vốn đầu tư xã hội hóa còn hạn chế, chính sách thu hút đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư; chất lượng thu ngân sách còn hạn chế, tỷ lệ nợ thuế khó thu chiếm tỷ lệ cao trong tổng nợ...

Để thực hiện tốt mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, các cấp, các ngành cần đẩy mạnh các giải pháp về điều hành chính sách tiền tệ giữ ổn định vĩ mô; thực hiện nghiêm Luật ngân sách Nhà nước, quản lý chặt chẽ các khoản thu phát sinh trên địa bàn, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời; tăng cường các biện pháp chống thất thu, nợ đọng thuế; kiểm soát chặt chẽ các khoản chi từ ngân sách Nhà nước, triệt để tiết kiệm chi tiêu thường xuyên; tiếp tục thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, khuyến khích liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa nông sản địa phương; khai thác và phát huy hiệu quả các cơ sở sản xuất công nghiệp, đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, nâng cao công suất, chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp trên địa bàn; đẩy mạnh phát triển thị trường thương mại, dịch vụ, tăng cường các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch, tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu; tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; hỗ trợ kịp thời cho người dân khi gặp rủi ro, thiên tai ổn định đời sống, khôi phục sản xuất; tăng cường công tác bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự an toàn giao thông và phòng chống cháy, nổ./.

Cục Thống kê tỉnh


THÔNG TIN CẢI CÁCH


THỐNG KÊ TRUY CẬP

Tổng số lượt truy cập: 51609746
Số người đang truy cập: 22