Số liệu thống kê

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2017
Tue, 26/12/2017 09:00 | GMT +7

I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

a) Trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào thu hoạch cây trồng vụ mùa và chuẩn bị cho gieo trồng vụ đông xuân. Tính đến ngày 15/11 toàn tỉnh đã thu hoạch được 98.764 tấn lúa, 549.182 tấn ngô, 33.372 tấn sắn, 1.050 tấn khoai lang, 284 tấn đậu tương, 420 tấn lạc, 26.836 tấn rau, đậu các loại. So với cùng kỳ năm trước sản lượng lúa giảm 2,9%; ngô giảm 4,0%; sắn giảm 6,5%; khoai lang tăng 13,5%; đậu tương giảm 29,4%; lạc tăng 22,4%; rau, đậu các loại tăng 12,6%.

Theo báo cáo sơ bộ, vụ mùa năm nay toàn tỉnh gieo trồng 38.897 ha lúa, trong đó lúa ruộng 18.849 ha, lúa nương 20.048 ha và 137.022 ha ngô. So với vụ mùa năm 2016, diện tích lúa giảm 2,6%, trong đó lúa ruộng tăng 0,2%, lúa nương giảm 5,1%, ngô giảm 9,6%, diện tích lúa nương và ngô giảm do một số diện tích bỏ hoang hoặc chuyển đổi sang trồng cây khác. Năng suất lúa mùa ước đạt 28,71 tạ/ha, tăng 0,2%; sản lượng lúa 111.655 tấn, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ngô ước đạt 40,53 tạ/ha, tăng 3,2%; sản lượng ngô 555.397 tấn, giảm 6,7% so với cùng kỳ.

Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển, diện tích cây lâu năm hiện có 6.039 ha cao su, 12.696 ha cà phê, 4.418 ha chè, 30.563 ha cây ăn quả. So với cùng kỳ năm trước diện tích cao su giảm 2,7%, cà phê tăng 2,4%, chè tăng 2,8%, cây ăn quả tăng 42,7%.

Tính chung từ đầu năm đến nay toàn tỉnh trồng mới 657 ha cà phê, 128 ha chè và 7.428 ha cây ăn quả các loại, trong đó có 5.771 ha cây ăn quả trên đất dốc (trên đất trồng lúa nương 43 ha, đất trồng ngô 5.058 ha, đất trồng sắn 396 ha, đất trồng cà phê 274 ha); 1.074 ha cây lâu năm lai ghép cho năng suất và chất lượng cao; 107 ha rau các loại, 248 ha chè, 118 ha nhãn, 05 ha mận, 26 ha xoài, 20 ha na, 08 ha chanh leo và 05 ha thanh long theo tiêu chuẩn VietGap.

Đã thu hoạch được 35.137 tấn nhãn, tăng 1,4%; 11.828 tấn xoài, tăng 7,4%; 25.395 tấn mận, giảm 9,3%; 23.977 tấn chuối, tăng 15,6%; 2.108 tấn bơ, tăng 52,3%; 1.976 tấn chanh leo, tăng 4,2 lần; 1.416 tấn sơn tra, tăng 22,9%; 7.408 tấn cà phê, tăng 14,7%; 39.577 tấn chè, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước; cao su 707 tấn.

Trong tháng xuất hiện dịch bệnh đối với một số cây trồng: Lúa 53 ha, chè 14 ha, cà phê 54 ha, cây ăn quả 30 ha, tuy nhiên không có diện tích mất trắng, dự ước giá trị thiệt hại 38 triệu đồng.

b) Chăn nuôi

Chăn nuôi gia súc, gia cầm nhìn chung phát triển ổn định. Theo kết quả điều tra chăn nuôi 01/10/2017, tổng đàn trâu hiện có 143.362 con, giảm 1,5%; đàn bò 290.231 con, tăng 9,4%; đàn lợn 590.396 con, giảm 2,8%; đàn gia cầm 6.137 nghìn con, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng sản phẩm thịt trâu xuất chuồng tháng 11/2017 ước đạt 375 tấn, thịt bò 455 tấn, thịt lợn 3.581 tấn, thịt gia cầm 967 tấn, sản lượng sữa tươi 6.920 tấn. So với cùng kỳ năm trước sản lượng thịt trâu xuất chuồng tăng 4,5%, thịt bò tăng 0,9%, thịt lợn tăng 11,3%, thịt gia cầm tăng 3,1%, sữa tươi tăng 12,9%.

Trong tháng xảy ra dịch bệnh lở mồm long móng trên gia súc tại huyện Thuận Châu làm 62 con mắc bệnh; bệnh tụ huyết trùng trên gia súc tại huyện Phù Yên làm 07 con mắc bệnh, chết 01 con. Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm được 136.324 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu, bò; 170.504 liều vắc xin lở mồm long móng; 40.684 liều vắc xin tả; 640.000 liều vắc xin gia cầm; 27.875 liều vắc xin ung khí thán. Công tác kiểm dịch xuất và nhập gia súc, gia cầm đuợc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo kịp thời phát hiện và xử lý nhanh các trường hợp gia súc, gia cầm mắc bệnh, tránh dịch bệnh lây lan ra diện rộng.

2. Lâm nghiệp

Theo báo cáo của Chi cục Kiểm Lâm, trong tháng sản lượng gỗ khai thác đạt 5.484 m3, tăng 34,7%; củi khai thác đạt 105.546 ste, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, sản lượng gỗ khai thác đạt 38.171 m3, tăng 2,4%; củi khai thác đạt 1.103.189 ste, giảm 5,5% so với cùng kỳ.

Trong tháng xảy ra 21 vụ vi phạm lâm luật với tổng số tiền phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 131 triệu đồng. Tính chung 11 tháng toàn tỉnh xảy ra 470 vụ vi phạm lâm luật, giảm 13,8%; số tiền phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 3.161 triệu đồng, tăng 58,4% so với cùng kỳ năm trước.

3. Thuỷ sản

Toàn tỉnh hiện có 2.665 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản, 8.697 lồng bè nuôi trồng thủy sản với thể tích 791.555 m3. So với cùng kỳ năm trước diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng 2,7%, số lồng bè tăng 247,7%, thể tích tăng 271,2% do có chính sách khuyến khích phát triển nuôi cá lồng bè của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Sản lượng thuỷ sản tháng 11 ước tính đạt 679 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng 555 tấn, khai thác 124 tấn. Tính chung 11 tháng, sản lượng thủy sản ước tính đạt 6.397 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng 5.228 tấn, tăng 3,4%; khai thác 1.169 tấn, tăng 2,5%.

Sản lượng giống thủy sản ước tính đến tháng 11/2017 đạt 91 triệu con, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 11 ước tính giảm 15,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 113,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,9%; sản xuất và phân phối điện giảm 18,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 12,1%.

Tính chung 11 tháng chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 78,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 29,0%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,2%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 11 tháng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước: Than đá (than cứng) tăng 122,1%; đường tăng 34,9%; điện sản xuất tăng 21,7% (trong đó thủy điện Sơn La tăng 26,5%, thủy điện Huổi Quảng tăng 13,4%); đá xây dựng các loại tăng 21,9%; sữa chua, sữa và kem lên men hoặc axít hoá tăng 10,6%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng tăng 6,5%; sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác tăng 6,2%; chè nguyên chất tăng 1,3%. Một số sản phẩm sản xuất giảm: Gạch xây dựng giảm 1,9%; điện thương phẩm giảm 2,6%; nước uống được giảm 7,5%; xi măng giảm 8,6%; các sản phẩm có chứa thành phần sữa tự nhiên chưa phân vào đâu giảm 9,7%; mật đường giảm 13,5%.

Các sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ thuận lợi, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2017 tăng 10,3% so với tháng trước và tăng 28,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng: Chè nguyên chất tăng 22,9%; sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác tăng 11,0%; đường tăng 6,3%; sữa chua, sữa và kem lên men hoặc axit hóa tăng 0,4%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng giảm 36,4%; các sản phẩm có chứa thành phần sữa tự nhiên chưa phân vào đâu giảm 13,3%; gạch xây dựng giảm 12,7%; xi măng giảm 9,0%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/11/2017 tăng 14,1 lần so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Gạch xây dựng tăng 3,6 lần; các sản phẩm có chứa thành phần sữa tự nhiên chưa phân vào đâu tăng 54,2%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng tăng 8,0%; chè nguyên chất giảm 34,0%; sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác giảm 17,6%; xi măng giảm 3,0%. Riêng sản phẩm sữa chua, sữa và kem lên men hoặc axit hóa và sản phẩm đường có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung, tăng 16,7 lần và 27,2 lần.

III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng toàn tỉnh có 22 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 396.350 triệu đồng, tăng 57,1% về số doanh nghiệp và tăng 117,7% số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 18.016 triệu đồng, tăng 38,5%. Trong tháng có 04 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động, 01 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể.

Tính chung từ đầu năm đến nay toàn tỉnh có 286 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 2.902.753 triệu đồng, tăng 44,4% về số doanh nghiệp và giảm 7,9% số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10.149 triệu đồng, giảm 36,2%. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động là 48 doanh nghiệp, tăng 54,8%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 19 doanh nghiệp, giảm 70,8% so với cùng kỳ.

IV. HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ

1. Bán lẻ hàng hóa

Tổng mức bán lẻ hàng hoá trong tháng tương đối ổn định, ước tính đạt 1.473,2 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm ngành hàng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước đều tăng, trong đó tăng cao nhất là nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm 19,0%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 15,9%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,7%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 14,6%; ô tô các loại tăng 14,5%; phương tiện đi lại (trừ ô tô kể cả phụ tùng) tăng 14,5%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 11 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.502,6 tỷ đồng, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm ô tô các loại tăng 16,7%; nhóm hàng hóa khác và nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy cùng tăng 15,7%; nhóm gỗ, vật liệu xây dựng và nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm cùng tăng 14,5%; nhóm vật phẩm văn hóa giáo dục và nhóm xăng, dầu các loại tăng 14,0%; nhóm lương thực, thực phẩm tăng 13,9%; các nhóm ngành hàng khác tăng từ 12,1% đến 13,6%.

2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11 ước tính đạt 349,0 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 16,5 tỷ đồng, tăng 1,1% và tăng 13,4%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 132,9 tỷ đồng, tăng 0,5% và tăng 18,6%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 0,9 tỷ đồng, tăng 1,2% và tăng 2,0%; doanh thu dịch vụ khác đạt 198,8 tỷ đồng, tăng 1,8% và tăng 12,8%.

Tính chung 11 tháng doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 3.628,6 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú tăng 25,3%; ăn uống tăng 15,2%; du lịch lữ hành tăng 18,5%; dịch vụ khác tăng 10,2%.

3. Vận tải hành khách và hàng hoá

Trong tháng vận tải hành khách, hàng hóa trên các tuyến ổn định, đáp ứng nhu cầu đi lại và sản xuất của nhân dân. Vận tải hành khách tháng 11 ước đạt 303 nghìn lượt khách vận chuyển và 29.340 nghìn lượt khách.km luân chuyển, tăng 2,4% và tăng 2,0% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng vận tải hành khách ước đạt 3.176 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 5,1% và 312.258 nghìn lượt khách.km luân chuyển, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 2.868 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 5,1% và 308.798 nghìn lượt khách.km luân chuyển, tăng 7,3%. Ước tính doanh thu vận tải hành khách 11 tháng đạt 276.120 triệu đồng, tăng 10,2%, trong đó doanh thu vận tải hành khách đường bộ 266.791 triệu đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hóa tháng 11 ước tính đạt 393 nghìn tấn vận chuyển, tăng 1,3% và 42.230 nghìn tấn.km luân chuyển, tăng 1,7% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng vận tải hàng hóa ước tính đạt 4.112 nghìn tấn vận chuyển tăng 7,0% và 463.376 nghìn tấn.km luân chuyển tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 4.059 nghìn tấn, tăng 7,0% và 461.759 nghìn tấn.km, tăng 7,3%. Ước tính doanh thu vận tải hàng hóa 11 tháng đạt 1.399.599 triệu đồng, tăng 11,2%, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa đường bộ 1.393.527 triệu đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 11 ước tính đạt 3.610 triệu đồng, tăng 9,2% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng ước đạt 38.284 triệu đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 37.661 triệu đồng, tăng 9,1%.

V. VỐN ĐẦU TƯ

Tình hình thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tiếp tục đạt khá do đang là thời kỳ cao điểm của hoạt động đầu tư, xây dựng cơ bản; UBND tỉnh, các sở, ban, ngành và các chủ đầu tư đang tích cực chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ các chương trình, dự án; rà soát, điều chỉnh các nguồn vốn có tiến độ giải ngân chậm, phấn đấu tỷ lệ giải ngân năm 2017 cao nhất trên kế hoạch vốn được giao. Dự ước vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý tháng 11 thực hiện 263.904 triệu đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 221.616 triệu đồng, tăng 11,0%; cấp huyện 42.288 triệu đồng, tăng 85,3%.

Tính chung 11 tháng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.108.597 triệu đồng, bằng 88,4% kế hoạch năm và tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 1.685.472 triệu đồng, bằng 87,3% và tăng 15,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 423.125 triệu đồng, bằng 93,1% và tăng 40,9%.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắc phục như: Tỷ lệ giải ngân thanh toán một số dự án thấp, tiến độ thực hiện so với kế hoạch giao còn chậm, trong đó có cả các dự án được khởi công mới. Để đảm bảo tiến độ các chương trình, dự án UBND các cấp cần tích cực kiểm tra, đôn đốc các chủ đầu tư, ban quản lý dự án thực hiện kế hoạch vốn đầu tư năm 2017; tiếp tục rà soát, điều chuyển bổ sung các nguồn vốn từ các dự án chậm tiến độ theo kế hoạch; các chủ đầu tư cần sớm hoàn thiện hồ sơ, giải ngân thanh toán theo khối lượng hoàn thành.

VI. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

1. Thu, chi ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 11 trên địa bàn ước tính đạt 1.058,5 tỷ đồng, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 468,0 tỷ đồng; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 587,0 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 3,5 tỷ đồng.

Tính chung 11 tháng tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 12.635,7 tỷ đồng, bằng 109,2% dự toán năm, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 4.000,0 tỷ đồng, bằng 98,8%; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên đạt 6.954,4 tỷ đồng, bằng 94,2%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 39,2 tỷ đồng, bằng 7,7 lần. Trong thu cân đối ngân sách nhà nước, có 7 khoản thu đạt trên 109,2% so với dự toán năm gồm: Thu cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 247,6%; thu tiền sử dụng đất đạt 215,2%; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 157,5%; thuế thu nhập cá nhân đạt 126,9%; thu tiền thuê mặt đất, mặt nước đạt 124,7 %; thu tại xã đạt 122,9%; thu phí, lệ phí đạt 117,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 11 ước tính đạt 1.452,4 tỷ đồng. Tính chung 11 tháng ước đạt 10.778,7 tỷ đồng, bằng 92,9% dự toán năm, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại và nhiệm vụ phát sinh theo chỉ đạo của UBND tỉnh, cụ thể: Chi thường xuyên đạt 7.548,3 tỷ đồng, bằng 88,2%; chi đầu tư phát triển đạt 1.815,5 tỷ đồng, bằng 134,9%; chi hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ, mục tiêu đạt 873,3 tỷ đồng, bằng 98,1%; chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 387,5 tỷ đồng, bằng 64,1%.

2. Thu chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng, tín dụng

Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn ổn định, tổng thu tiền mặt qua quỹ ngân hàng 11 tháng ước thực hiện 84.307 tỷ đồng, tổng chi tiền mặt ước thực hiện 86.427 tỷ đồng, bội chi 2.120 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước tổng thu tiền mặt tăng 16,1%, tổng chi tiền mặt tăng 14,3%.

Dư nợ tín dụng ước đạt 28.500 tỷ đồng, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dư nợ ngắn hạn đạt 12.300 tỷ đồng, tăng 17,2%; dư nợ trung dài hạn đạt 16.200 tỷ đồng, tăng 17,0%. Trong tổng dư nợ, dư nợ cho vay các đối tượng chính sách đến 31/10/2017 là 3.509 tỷ đồng, chiếm 12,3%; nợ xấu toàn địa bàn là 423 tỷ đồng, chiếm 1,5%.

Huy động vốn tại địa phương ước đến hết tháng 11 đạt 14.500 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tiền gửi tiết kiệm 11.350 tỷ đồng, tăng 18,1%; tiền gửi các tổ chức kinh tế 3.000 tỷ đồng, tăng giảm 3,4%; tiền gửi giấy tờ có giá 150 tỷ đồng, tăng 55,4%.

VII. XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

1. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 11 ước tính đạt 801,3 nghìn USD, tăng 12,5% so với tháng trước, tăng chủ yếu ở mặt hàng chè xuất khẩu đạt 679,6 nghìn USD, tăng 24,8%; xuất khẩu xi măng sang Lào đạt 7,6 nghìn USD tăng 6,6 lần; xuất khẩu lõi ngô ép đạt 8,8 nghìn USD, tương đương tháng trước; riêng xuất khẩu tơ tằm đạt 105,3 nghìn USD, giảm 33,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu tháng 11 tăng 143,4% chủ yếu do xuất khẩu chè tăng 162,9%, xuất khẩu tơ tằm tăng 5,6 lần. Thị trường xuất khẩu chủ yếu trong tháng: Pakixtan, Apganixtan, Lào, Hàn Quốc, Ấn Độ.

Tính chung 11 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 8.208,3 nghìn USD, giảm 78,1% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do công ty TNHH Mỏ Niken bản Phúc ngừng hoạt động; xuất khẩu lõi ngô ép đạt 65,0 nghìn USD, giảm 59,4%; xuất khẩu xi măng đạt 63,3 nghìn USD, giảm 40,4%; xuất khẩu ngô giống đạt 115,6 nghìn USD, tăng 8,7%; xuất khẩu chè đạt 7.417,8 nghìn USD, tăng 9,2%; xuất khẩu tơ tằm đạt 546,6 nghìn USD, tăng 6,7 lần. Về thị trường xuất khẩu 11 tháng, Apganixtan là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 4.480,2 nghìn USD; tiếp đến là Đài Loan đạt 1.323,5 nghìn USD; Pakixtan đạt 750,0 nghìn USD; Ấn Độ đạt 546,6 nghìn USD; Lào đạt 178,9 nghìn USD; Hàn Quốc đạt 65,0 nghìn USD; Nhật Bản đạt 60,0 nghìn USD.

2. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 11 ước tính đạt 3.612,0 nghìn USD, tăng 2,9% so với tháng trước, tăng chủ yếu do nhập khẩu hàng hóa khác đạt 900,0 nghìn USD, tăng 20,0%; nhập khẩu cỏ Anphapha đạt 152,0 nghìn USD, tăng 2,7%; bên cạnh đó một số mặt hàng kim ngạch nhâp khẩu giảm: Nhập khẩu phân bón đạt 1.632,0 nghìn USD, giảm 2,9%; nhập khẩu máy móc thiết bị đạt 928,0 nghìn USD, giảm 0,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 11 tăng 113,0%, trong đó tăng cao nhất là nhập khẩu phân bón tăng 6,8 lần; nhập khẩu hàng hóa khác tăng 138,1%; nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 2,2%; riêng nhập khẩu cỏ Anphapha giảm 24,0%.

Tính chung 11 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước đạt 28.312,6 nghìn USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do nhập khẩu phân bón tăng 41,7%; nhập khẩu cỏ Anphapha tăng 27,0%; nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 10,1%; riêng nhập khẩu hàng hóa khác giảm 19,5%.

VIII. CHỈ SỐ GIÁ

1. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2017 tăng 0,20% so với tháng trước, trong đó khu vực thành thị tăng 0,21%, khu vực nông thôn tăng 0,19%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 08 nhóm có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Thuốc và dụng cụ y tế tăng 0,61%; giao thông tăng 0,61% (do mặt hàng xăng, dầu tăng 1,63% theo Quyết định điều chỉnh tăng giá xăng vào ngày 05 và ngày 20/11/2017 của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, bình quân giá xăng tăng 725 đồng/lít, giá dầu tăng 620 đồng/lít); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,29%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,18% (do thời tiết chuyển mùa, nhu cầu mua sắm của người dân tăng); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,15% (giá lương thực tăng 0,02%, thực phẩm tăng 0,24%, ăn uống ngoài gia đình ổn định); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,04% (chủ yếu ở mặt hàng hoa tươi tăng 4,17% do phục vụ ngày lễ); nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,03% (chủ yếu do mặt hàng thép tăng 3,70%, dầu hỏa tăng 0,75%). Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số ổn định.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2017 tăng 0,79% so với tháng 12/2016 và tăng 0,78% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng tăng 3,50% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Dự báo tháng 12/2017 giá cả thị trường tăng.

2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 11/2017 giảm 0,12% so với tháng trước, tăng 1,29% so với tháng 12/2016 và tăng 1,14% so với cùng kỳ năm trước, giá vàng 99,99% bán ra bình quân trong tháng là 3.664.100 đồng/chỉ.

Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,31% so với tháng trước, tăng 0,14% so với tháng 12/2016 và tăng 1,75% so với cùng kỳ năm trước.

IX. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Trong tháng đời sống dân cư tương đối ổn định, trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói giáp hạt.

Trong những ngày đầu tháng 11, trên địa bàn thành phố Sơn La tại đầu nguồn cung cấp nước bị ô nhiễm do nước thải ra môi trường của một số cơ sở sơ chế cà phê, đã xảy ra tình trạng thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng. UBND tỉnh đã ra Quyết định đình chỉ hoạt động đối với các cơ sở sản xuất cà phê gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn. Hiện tại đã xử lý xong nguồn nước, đảm bảo ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân.

Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện, các huyện,thành phố và các đơn vị liên quan phối hợp với Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam bàn giao 04 bộ thiết bị vui chơi ngoài trời, trị giá 320 triệu đồng cho 04 trường mầm non trên địa bàn huyện Mường La. Đã trao tặng tiền mặt 144 suất cải thiện dinh dưỡng, trị giá 72 triệu đồng; 186 bộ đồ dùng học tập, trị giá 93 triệu đồng; 150 mũ bảo hiểm trị giá 15 triệu đồng cho học sinh một số trường trên địa bàn toàn tỉnh. Văn phòng Công nhận chất lượng đã trao quà "Hơi ấm mùa đông 2017" trị giá gần 45 triệu đồng cho học sinh trường Mầm non Long Hẹ, huyện Thuận Châu. Công ty Bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Việt Nam trao 100 suất quà trị giá 100 triệu đồng cho nhân dân xã Mường Thải, huyện Phù Yên.

Trong tháng Ngân hàng chính sách xã hội đã thực hiện các chương trình cho vay đối với 3.891 lượt hộ, tổng số tiền 113.768 triệu đồng. Xuất khẩu lao động sang thị trường Nhật Bản 06 người; công tác tư vấn việc làm, học nghề, xuất khẩu lao động cho 1.200 lượt người; giới thiệu việc làm và cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh 42 lao động; dạy nghề, tuyển sinh đào tạo được 2.803 người.

Trong tháng có 04 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới: Xã Phổng Lái, huyện Thuận Châu; xã Mường Bú, huyện Mường La; xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp; xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu. Tính đến nay toàn tỉnh đã có 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

2. Giáo dục và đào tạo

Trong tháng ngành Giáo dục tiếp tục chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ năm học 2017 - 2018; tích cực thi đua lập thành tích chào mừng 35 năm ngành nhà giáo Việt Nam với nhiều hoạt động như: Hội thi giáo viên dạy giỏi, thao giảng, thi làm đồ dùng dạy học, các hoạt động ngoại khóa, văn nghệ, thể dục thể thao…

Các huyện, thành phố đã tổ chức cuộc thi "Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm" tại các trường chỉ đạo điểm. Tiếp tục tổ chức ôn luyện đội tuyển dự thi chọn học sinh giỏi Quốc gia năm 2018; triển khai thực hiện hiệu quả phong trào thi đua "Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học"; phong trào "Hai tốt".

Tiếp nhận, cấp phát sữa tài trợ từ Công ty cổ phần sữa Việt Nam cho 05 trường Mầm non, 05 trường Tiểu học thuộc 5 huyện trên địa bàn tỉnh.

Tổ chức lễ tổng kết và trao giải cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh Sơn La lần thứ III năm 2017, đã trao 5 giải nhất và huy chương vàng, 4 giải nhì và huy chương bạc, 11 giải ba và huy chương đồng, 15 giải khuyến khích cho tổng số 35 mô hình, sản phẩm của 59 tác giả; chọn 10 mô hình gửi tham dự cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng toàn quốc lần thứ XIII, kết quả có 02 sản phẩm đạt giải khuyến khích.

3. Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Ngành y tế tiếp tục triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh, phát hiện sớm, khống chế kịp thời các bệnh dịch, đặc biệt là dịch sốt xuất huyết, dại... hưởng ứng diệt loăng quăng bọ gậy và vệ sinh môi trường, phòng chống các bệnh do muỗi truyền. Chủ động phun hoá chất diệt côn trùng theo kế hoạch cấp thuốc từ Trung tâm y tế dự phòng. Chỉ đạo Trung tâm Y tế huyện Phù Yên phối hợp tốt với các đơn vị y tế triển khai thành công Chiến dịch vệ sinh môi trường phòng chống dịch bệnh sau mưa lũ. Trong tháng xảy ra 3 vụ dịch, trong đó có 33 ca mắc đau mắt đỏ, 30 ca mắc quai bị và 62 ca mắc sốt xuất huyết, không có tử vong; có 08 người nhiễm HIV, 14 trường hợp tử vong do AIDS; 97 trường hợp ngộ độc thực phẩm, không có tử vong.

Chỉ đạo các đơn vị thực hiện tốt công tác khám, điều trị, cấp cứu, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ; tiếp tục triển khai các quy định mới về khám chữa bệnh BHYT; từng bước mở rộng, triển khai các dịch vụ kỹ thuật mới. Trong tháng tổng số lượt khám bệnh tại các sở y tế là 141.673 lượt; số bệnh nhân điều trị nội trú 20.510 người; số bệnh nhân điều trị ngoại trú 81.136 người; số bệnh nhân chuyển tuyến 10.803 người, trong đó chuyển về Trung ương 588 người.

Tiếp tục tổ chức triển khai có hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế về lĩnh vực y tế.

4. Văn hóa, thông tin, thể thao

Tiếp tục tập trung tổ chức tốt công tác thông tin tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Trong tháng phục vụ chiếu phim 378 buổi cho 80.000 lượt người xem; phục vụ 26.540 lượt khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh và các điểm di tích; phát hành 04 phim, dịch và lồng thuyết minh tiếng dân tộc 02 phim; xây dựng chương trình nghệ thuật biểu diễn phục vụ Hội nghị APEC 03 buổi; tuyên truyền giới thiệu sách 24 cuộc; biên soạn in và phát hành 01 số thông tin khoa học chuyên đề "Cách mạng tháng Mười Nga - Những giá trị xuyên thời đại"; quảng cáo, giới thiệu các sản phẩm của Sơn La tại Tuần lễ cấp cao APEC 2017; tổ chức Gameshow "Về bản em" tại Thành phố Sơn La và huyện Mường La phát trên sóng phát thanh, truyền hình tỉnh và VTV5 Đài Truyền hình Việt Nam; tổ chức biểu diễn chương trình nghệ thuật "Người giáo viên nhân dân" chào mừng kỷ niệm 35 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 tại trung tâm Văn hóa tỉnh.

Thể thao quần chúng: Tổ chức tốt giải bóng đá nam toàn tỉnh tại huyện Phù Yên; phối hợp với Liên đoàn Cầu lông tổ chức giải Cầu lông các Câu lac bộ tỉnh Sơn La mở rộng năm 2017 tranh cúp VINA STAR; tham gia ngày Hội văn hóa thể thao khu vực I tại tỉnh Hòa Bình đạt 12 HCV, 05 HCB, 10 HCĐ và đứng thứ 2 toàn đoàn.

Thể thao thành tích cao được duy trì, củng cố và phát triển các đội tuyển tỉnh (35 VĐV), đội tuyển trẻ (72 VĐV) và đội tuyển năng khiếu (43 VĐV). Tham gia thi đấu giải vô địch Điền kinh quốc gia năm 2017 tại Thành phố Hồ Chí Minh đạt 02 HCB và 01 HCĐ; tham gia thi đấu giải bóng đá nữ vô địch quốc gia lượt về tại tỉnh Hà Nam.

Phát thanh tiếng phổ thông 90 chương trình, sử dụng 577 tin, bài, phóng sự, 98 chuyên đề, chuyên mục. Tiếng dân tộc 120 chương trình, sử dụng 556 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt, 96 chuyên đề, chuyên mục.

Truyền hình tiếng phổ thông thực hiện 271 chương trình, sử dụng 224 lượt chuyên đề, chuyên mục, 1.003 tin, bài, phản ánh, phỏng vấn, phóng sự, gương người tốt, việc tốt, 30 trang truyền hình cơ sở. Tiếng dân tộc thực hiện 68 chương trình, sử dụng 502 tin, bài phóng sự, 34 lượt chuyên đề, chuyên mục.

5. Công tác phòng chống ma tuý

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo 2968 đến ngày 15/11/2017 toàn tỉnh có 8.737 người nghiện ma tuý đang trong diện quản lý, trong đó có 1.741 người đang cai nghiện tập trung tại các Trung tâm giáo dục lao động, 51 người đang quản lý tại cơ sở quản lý sau cai, 1.349 người đang điều trị bằng Methadone. Hiện trên địa bàn tỉnh còn 11 điểm, 61 đối tượng có biểu hiện bán lẻ, chứa chấp, tổ chức sử dụng ma túy ở 30 tổ, bản thuộc 17 xã, thị trấn.

6. An toàn giao thông

Trong tháng 11 trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ tai nạn, va chạm giao thông làm chết 07 người và bị thương 16 người. Lũy kế 11 tháng xảy ra 126 vụ tai nạn, va chạm giao thông làm chết 64 người và bị thương 126 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 13 vụ, số người chết giảm 23 người, số người bị thương tăng 11 người.

7. Thiệt hại do thiên tai

Toàn tỉnh đang tiếp tục khắc phục thiệt hại thiên tai do 02 đợt mưa lũ 02-03/8 và 10-12/10 gây ra. Tính đến ngày 10/11/2017 tổng số các nguồn vốn, kinh phí hỗ trợ, cứu trợ của Trung ương, tỉnh, huyện để khắc phục hậu quả thiên tai là 428,413 tỷ đồng; đã kịp thời hỗ trợ đến các hộ gia đình có người chết, mất tích, bị thương, hỗ trợ xây dựng nhà ở, gạo, nhu yếu phẩm sinh hoạt, hỗ trợ sản xuất cho nhân dân; hệ thống thông tin liên lạc đã thông suốt; đã thông tuyến bước 1 trên tất cả các tuyến đường Quốc Lộ, tỉnh lộ, đường huyện; khắc phục tạm thời các công trình thuỷ lợi bị hư hỏng; sửa chữa, lắp đặt cấp nước tạm thời cho nhân dân các vùng có hệ thống nước sinh hoạt bị hư hỏng nặng và khắc phục ngay những công trình bị hư hỏng nhẹ đảm bảo cấp nước ổn định cho nhân dân; đã hoàn thành san nền cho 405/405 nhà, lắp dựng 158/158 nhà lắp ghép cho các hộ dân bị mất nhà tại huyện Mường La; lắp dựng lán trại tạm, vận động nhân dân cho ở nhờ và bố trí nhà văn hoá để làm chỗ ở tạm cho nhân dân tại huyện Phù Yên và huyện Vân Hồ. Tổ chức tốt việc cứu chữa kịp thời cho những người bị thương, xử lý môi trường, phun tiêu độc khử trùng; thường xuyên theo dõi nắm bắt tình hình và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; tổ chức sử dụng các loại vắc xin, hóa chất để tiêm phòng, phun tiêu độc khử trùng, phòng, chống dịch bệnh bùng phát trên gia súc, gia cầm...

8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng cơ quan chức năng đã phát hiện, xử lý 14 vụ với 14 đối tượng vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, khai thác cát trái phép, gây ô nhiễm môi trường, nuôi nhốt động vật quý hiếm, hủy hoại rừng… Lũy kế từ đầu năm đã phát hiện, xử lý 382 vụ với 393 đối tượng vi phạm các quy định trên.

Tháng 11 trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy nhà, ước tính thiệt hại 80 triệu đồng. Lũy kế 11 tháng xảy ra 32 vụ cháy, nổ làm 04 người chết và thiệt hại ước tính 4.399 triệu đồng./.

Cục Thống kê tỉnh Sơn La


THÔNG TIN CẢI CÁCH


THỐNG KÊ TRUY CẬP

Tổng số lượt truy cập: 43071293
Số người đang truy cập: 64