Số liệu thống kê

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2017
Tue, 07/11/2017 10:00 | GMT +7

I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

a) Trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc, thu hoạch cây trồng vụ mùa. Tính đến ngày 15/10 toàn tỉnh đã thu hoạch được 12.766 tấn lúa, 386.833 tấn ngô, 328 tấn khoai lang, 92 tấn lạc, 17.266 tấn rau các loại. So với cùng kỳ năm trước sản lượng lúa tăng 0,9%, ngô tăng 7,5%, khoai lang tăng 21,9%, lạc tăng 1,1%, rau các loại tăng 5,0%.

Diện tích gieo trồng vụ mùa tính đến thời điểm trên đạt 18.844 ha lúa ruộng, 19.850 ha lúa nương, 140.760 ha ngô, 868 ha ngô làm thức ăn chăn nuôi, 32.558 ha sắn, 177 ha khoai lang, 354 ha đậu tương, 429 ha lạc, 3.054 ha dong giềng, 2.343 ha rau và đậu đỗ các loại. So với cùng kỳ năm trước, diện tích lúa ruộng tăng 0,1%; lúa nương giảm 6,0%; ngô giảm 7,1%; ngô làm thức ăn chăn nuôi tăng 13,3%, sắn giảm 0,8%; khoai lang tăng 9,3%; đậu tương giảm 25,0%; lạc tăng 4,1%; dong giềng tăng 30,5%; rau và đậu đỗ các loại tăng 2,2%.

Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển, diện tích cây lâu năm hiện có 6.039 ha cao su, 12.696 ha cà phê, 4.418 ha chè, 30.095 ha cây ăn quả. So với cùng kỳ năm trước diện tích cao su giảm 2,7%, cà phê tăng 2,4%, chè tăng 2,8%, cây ăn quả tăng 40,6%.

Thực hiện chủ trương chuyển dịch sản xuất cây trồng của tỉnh, từ đầu năm đến nay trên địa bàn trồng mới 5.461 ha cây ăn quả trên đất dốc (trên đất trồng lúa nương 27 ha, đất trồng ngô 4.764 ha, đất trồng sắn 396 ha, đất trồng cà phê 274 ha), 1.074 ha cây lâu năm lai ghép cho năng suất và chất lượng cao; 101 ha rau các loại, 248 ha chè, 118 ha nhãn, 05 ha mận, 26 ha xoài theo tiêu chuẩn VietGap.

Toàn tỉnh đã thu hoạch được 31.317 tấn nhãn, tăng 1,4%; 11.828 tấn xoài, tăng 7,4%; 25.395 tấn mận, giảm 9,3%; 21.190 tấn chuối, tăng 16,0%; 2.108 tấn bơ, tăng 52,3%; 1.360 tấn chanh leo, tăng 3,1 lần; 1.086 tấn sơn tra, tăng 11,5%; 3.068 tấn cà phê, tăng 32,7%; 39.237 tấn chè, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước; cao su 434 tấn.

Trong tháng xuất hiện dịch bệnh đối với một số cây trồng: Lúa 1.435 ha; chè 18 ha; cà phê 258 ha; cây ăn quả 113 ha, tuy nhiên không có diện tích mất trắng, dự ước giá trị thiệt hại 370 triệu đồng.

b) Chăn nuôi

Chăn nuôi gia súc, gia cầm nhìn chung ổn định, ước tính tổng đàn trâu hiện có 144.247 con, giảm 2,9%; đàn bò 279.134 con, tăng 11,5%; đàn lợn 592.028 con, giảm 2,9%; đàn gia cầm 6.147 nghìn con, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước.

Tháng 10, sản lượng sản phẩm thịt trâu xuất chuồng ước đạt 253 tấn, thịt bò 477 tấn, thịt lợn 2.798 tấn, thịt gia cầm 1.249 tấn, sản lượng sữa tươi 6.722 tấn. So với cùng kỳ năm trước sản lượng thịt trâu xuất chuồng giảm 26,5%, thịt bò tăng 12,8%, thịt lợn tăng 4,7%, thịt gia cầm giảm 4,3%, sữa tươi tăng 14,8%.

Trong tháng xảy ra dịch bệnh lở mồm long móng trên gia súc tại các huyện Mường La, Mai Sơn, Sông Mã, Sốp Cộp và Thành phố làm 657 con mắc bệnh, chết 01 con bò; bệnh tụ huyết trùng trên gia súc tại huyện Phù Yên và Mường La làm 19 con mắc bệnh, chết 01 con bò, thiệt hại ước tính 30 triệu đồng. Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm được 109.990 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu, bò; 76.611 liều vắc xin lở mồm long móng; 50.110 liều vắc xin tả; 35 liều vắc xin dại chó; 13.125 liều vắc xin ung khí thán. Công tác kiểm dịch xuất và nhập gia súc, gia cầm đuợc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo kịp thời phát hiện và xử lý nhanh các trường hợp gia súc, gia cầm mắc bệnh, tránh dịch bệnh lây lan ra diện rộng.

2. Lâm nghiệp

Theo báo cáo của Chi cục Kiểm Lâm, trong tháng toàn tỉnh trồng mới 05 ha rừng trồng tập trung, kết thúc thời vụ trồng rừng toàn tỉnh trồng 2.525 ha, đạt 42,1% kế hoạch và giảm 45,8% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng sản lượng gỗ khai thác đạt 1.345 m3, giảm 53,0%; củi khai thác đạt 68.458 ste, giảm 22,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, sản lượng gỗ khai thác đạt 32.687 m3, giảm 1,5%; củi khai thác đạt 997.643 ste, giảm 6,0% so với cùng kỳ.

Trong tháng xảy ra 14 vụ vi phạm lâm luật với tổng số tiền phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 54 triệu đồng. Tính chung 10 tháng toàn tỉnh xảy ra 449 vụ vi phạm lâm luật, giảm 9,1%; số tiền phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 3.030 triệu đồng, tăng 66,0% so với cùng kỳ năm trước.

3. Thuỷ sản

Toàn tỉnh hiện có 2.709 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản, 9.067 lồng bè nuôi trồng thủy sản với thể tích 825.425 m3. So với cùng kỳ năm trước diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng 6,1%, số lồng bè tăng 262,5%, thể tích tăng 287,0% do có chính sách khuyến khích phát triển nuôi cá lồng bè của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Sản lượng thuỷ sản tháng 10 ước tính đạt 371 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng 130 tấn, khai thác 241 tấn. Tính chung 10 tháng, sản lượng thủy sản ước tính đạt 5.717 tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng 4.673 tấn, tăng 4,7%; khai thác 1.044 tấn, tăng 2,4%.

Sản lượng giống thủy sản ước tính đến tháng 10/217 đạt 90 triệu con, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 10 ước tính tăng 27,9% so với cùng kỳ năm trước trong đó ngành khai khoáng tăng 6,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 57,2%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,0%.

Tính chung 10 tháng chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 82,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 37,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,2%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 10 tháng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước: Than đá (than cứng) loại khác tăng 122,1%; đường tăng 34,9%; điện sản xuất tăng 26,5% (trong đó thủy điện Sơn La tăng 37,1%); đá xây dựng các loại tăng 26,4%; sữa chua, sữa và kem lên men hoặc axít hoá tăng 12,0%; sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác tăng 7,2%; chè nguyên chất tăng 6,1%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng tăng 5,5%. Một số sản phẩm sản xuất giảm: Gạch xây dựng giảm 18,8%; mật đường giảm 16,7%; xi măng giảm 14,8%; các sản phẩm có chứa thành phần sữa tự nhiên chưa phân vào đâu giảm 8,3%; nước uống được giảm 8,1%; điện thương phẩm giảm 4,9%.

Các sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ thuận lợi, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2017 tăng 11,1% so với tháng trước và tăng 26,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng: Sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác tăng 10,5%; chè nguyên chất tăng 6,8%; sữa chua, sữa và kem lên men hoặc axit hóa tăng 4,6%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng giảm 17,4%; các sản phẩm có chứa thành phần sữa tự nhiên chưa phân vào đâu giảm 12,5%; gạch xây dựng giảm 12,0%; xi măng giảm 8,2%; đường giảm 1,3%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/10/2017 tăng 4,0 lần so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sữa chua, sữa và kem len men hoặc axit hóa tăng 3,8 lần; các sản phẩm có chứa thành phần sữa tự nhiên chưa phân vào đâu tăng 2,4 lần; gạch xây dựng tăng 84,0%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng tăng 22,4%; sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường và chất ngọt khác tăng 5,3%; xi măng tăng 3,5%; chè nguyên chất giảm 35,8%; riêng sản phẩm đường có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung, tăng 7,0 lần.

III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng toàn tỉnh có 14 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 182.100 triệu đồng, giảm 48,1% về số doanh nghiệp và giảm 54,8% số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 13.007 triệu đồng, giảm 12,8%. Trong tháng có 01 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động, 05 doanh nghiệp giải thể và 13 doanh nghiệp chuyển đổi loại hình.

Tính chung từ đầu năm đến nay toàn tỉnh có 264 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 2.506.403 triệu đồng, tăng 45,1% về số doanh nghiệp và giảm 18,5% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9.494 triệu đồng, giảm 43,8%. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động là 44 doanh nghiệp, tăng 63,0%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 18 doanh nghiệp, giảm 71,9% so với cùng kỳ.

IV. HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ

1. Bán lẻ hàng hóa

Trong tháng trên địa bàn tỉnh tổ chức một số Hội chợ nhằm kích cầu mua sắm hàng hóa như "Hội chợ thương mại Sơn La năm 2017", "Hội chợ xúc tiến thương mại năm 2017" làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng đáng kể, ước tính tháng 10 đạt 1.452,5 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm ngành hàng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước đều tăng, trong đó tăng cao nhất là nhóm ô tô các loại tăng 18,9%; hàng hóa khác tăng 18,3%; hàng may mặc tăng 18,1%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 18,1%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 10 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 14.020,6 tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ô tô các loại tăng 15,9%; xăng, dầu các loại và vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 14,1%; hàng hóa khác và sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 13,9%; lương thực, thực phẩm tăng 13,8%; gỗ và vật liệu xây dựng, hàng may mặc và đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 13,6%; các nhóm ngành hàng khác tăng từ 11,1% đến 13,4%.

2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10 ước tính đạt 333,2 tỷ đồng, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 16,1 tỷ đồng, giảm 5,4% và tăng 16,3%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 131,4 tỷ đồng, giảm 1,8% và tăng 18,8%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 0,9 tỷ đồng, tăng 1,2% và tăng 2,0%; doanh thu dịch vụ khác đạt 184,9 tỷ đồng, tăng 2,6% và tăng 13,8%.

Tính chung 10 tháng doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 3.268,3 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú tăng 26,5%; ăn uống tăng 14,8%; du lịch lữ hành tăng 19,7%; dịch vụ khác tăng 9,7%.

3. Vận tải hành khách và hàng hoá

Trong tháng do ảnh hưởng của mưa lớn kéo dài gây ngập úng, sạt lở nhiều đoạn đường, ách tắc giao thông trong nhiều ngày đã ảnh hưởng lớn đến vận tải hàng hóa và hành khách trên các tuyến.

Vận tải hành khách tháng 10 ước đạt 291 nghìn lượt khách vận chuyển và 28.886 nghìn lượt khách.km luân chuyển, giảm 0,7% và giảm 0,2% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng vận tải hành khách ước đạt 2.868 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 4,9% và 283.036 nghìn lượt khách.km luân chuyển, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 2.596 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 4,9% và 280.032 nghìn lượt khách.km luân chuyển, tăng 7,1%. Ước tính doanh thu vận tải hành khách 10 tháng đạt 253.834 triệu đồng, tăng 10,8%, trong đó doanh thu vận tải hành khách đường bộ 245.495 triệu đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hóa tháng 10 ước tính đạt 391 nghìn tấn vận chuyển, tăng 1,6% và 41.564 nghìn tấn.km luân chuyển, tăng 1,9% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng vận tải hàng hóa ước tính đạt 3.722 nghìn tấn vận chuyển và 421.203 nghìn tấn.km luân chuyển. So với cùng kỳ năm trước khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 6,9%, luân chuyển tăng 7,3%, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 3.675 nghìn tấn, tăng 6,9% và 419.774 nghìn tấn.km, tăng 7,3%. Ước tính doanh thu vận tải hàng hóa 10 tháng đạt 1.267.325 triệu đồng, tăng 10,6%, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa đường bộ 1.261.836 triệu đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 10 ước tính đạt 3.238 triệu đồng, tăng 1,8% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng ước đạt 34.605 triệu đồng, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 34.088 triệu đồng, tăng 8,2%.

V. VỐN ĐẦU TƯ

Dự ước vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý tháng 10 thực hiện 251.713 triệu đồng, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 208.278 triệu đồng, cấp huyện 43.435 triệu đồng.

Tính chung 10 tháng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.843.557 triệu đồng, bằng 77,3% kế hoạch năm và tăng 20,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 1.462.772 triệu đồng, bằng 75,8% và tăng 16,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 380.785 triệu đồng, bằng 83,8% và tăng 37,2%.

Nhìn chung vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn nhà nước tăng so với cùng kỳ năm trước do chỉ đạo chặt chẽ, quyết liệt của UBND tỉnh và sự cố gắng, nỗ lực của các địa phương và các sở, ban, ngành trong quá trình tổ chức triển khai; các dự án trọng điểm được các chủ đầu tư, nhà thầu tập trung thực hiện. Dự kiến vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh thời gian tới tiếp tục tăng do một số dự án lớn sẽ khởi công như: Dự án đầu tư xây dựng trụ sở HĐND, UBND, UB MTTQ Việt Nam tỉnh và một số ngành, đoàn thể tỉnh; dự án đầu tư xây dựng bệnh viện đa khoa Sơn La... Bên cạnh kết quả đạt được, tiến độ thực hiện của một số dự án so với kế hoạch giao còn chậm, tỷ lệ giải ngân một số nguồn vốn thấp… Để đảm bảo tiến độ các chương trình, dự án cần tiếp tục rà soát, điều chuyển bổ sung các nguồn vốn từ các dự án chậm tiến độ theo kế hoạch; các chủ đầu tư cần sớm hoàn thiện hồ sơ, giải ngân thanh toán theo khối lượng hoàn thành.

VI. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

1. Thu, chi ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng 10 ước tính đạt 1.227,6 tỷ đồng, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 600,0 tỷ đồng; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên đạt 624,9 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 2,7 tỷ đồng.

Tính chung 10 tháng tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 11.493,8 tỷ đồng, bằng 99,4% dự toán năm, trong đó: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 3.505,5 tỷ đồng, bằng 86,6%; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên đạt 6.310,9 tỷ đồng, bằng 85,5%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 35,8 tỷ đồng, bằng 7,0 lần. Trong thu cân đối ngân sách nhà nước, có 8 khoản thu đạt trên 99,4% so với dự toán năm gồm: Thu cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 376,4%; thu tiền sử dụng đất đạt 187,5%; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 125,6%; thuế thu nhập cá nhân đạt 120,8%; thu phí, lệ phí đạt 109,7%; thu tại xã đạt 112,4%; thu khác ngân sách đạt 109,1%; thu tiền thuê mặt đất, mặt nước đạt 102,0%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 10 ước tính đạt 1.158,0 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng ước đạt 9.411,2 tỷ đồng, bằng 81,1% dự toán năm, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại và nhiệm vụ phát sinh theo chỉ đạo của UBND tỉnh, cụ thể: Chi thường xuyên đạt 6.571,5 tỷ đồng, bằng 76,8%; chi đầu tư phát triển đạt 1.785,1 tỷ đồng, bằng 132,6%; chi hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ, mục tiêu đạt 540,0 tỷ đồng, bằng 60,6%; chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 360,4 tỷ đồng, bằng 59,6%.

2. Thu chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng, tín dụng

Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn ổn định, tổng thu tiền mặt qua quỹ ngân hàng 10 tháng ước thực hiện 75.756 tỷ đồng, tổng chi tiền mặt ước thực hiện 77.408 tỷ đồng, bội chi 1.652 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước tổng thu tiền mặt tăng 15,0%, tổng chi tiền mặt tăng 13,1%.

Dư nợ tín dụng ước đạt 28.200 tỷ đồng, tăng 21,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dư nợ ngắn hạn đạt 12.100 tỷ đồng, tăng 25,7%; dư nợ trung dài hạn đạt 16.100 tỷ đồng, tăng 18,8%. Trong tổng dư nợ, dư nợ cho vay các đối tượng chính sách đến 30/9/2017 là 3.491 tỷ đồng, chiếm 12,4%; nợ xấu toàn địa bàn là 945 tỷ đồng, chiếm 3,4%.

Huy động vốn tại địa phương ước đến hết tháng 10 đạt 14.400 tỷ đồng, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tiền gửi tiết kiệm 11.400 tỷ đồng, tăng 18,9%; tiền gửi các tổ chức kinh tế 2.900 tỷ đồng, tăng 17,2%; tiền gửi giấy tờ có giá 100 tỷ đồng, tăng 128,5%.

VII. XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

1. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 10 ước tính đạt 878,9 nghìn USD, giảm 46,2% so với tháng trước, giảm chủ yếu ở mặt hàng chè xuất khẩu đạt 706,4 nghìn USD, giảm 52,8%; xuất khẩu lõi ngô ép đạt 6,6 nghìn USD, giảm 17,5%; riêng xuất khẩu xi măng đạt 7,9 nghìn USD, tăng 38,6%; xuất khẩu tơ tằm đạt 158,0 nghìn USD, tăng 26,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 10 giảm 30,1% chủ yếu do xuất khẩu chè giảm 41,9%; xuất khẩu lõi ngô ép giảm 63,1%. Thị trường xuất khẩu chủ yếu trong tháng: Pakixtan, Apganixtan, Lào, Hàn Quốc, Ấn Độ.

Tính chung 10 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 7.573,5 nghìn USD, giảm 79,6% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do công ty TNHH Mỏ Niken bản Phúc ngừng hoạt động; xuất khẩu lõi ngô ép đạt 54,0 nghìn USD, giảm 60,8%; xuất khẩu xi măng đạt 62,6 nghìn USD, giảm 15,3%. Về thị trường xuất khẩu 10 tháng, Apganixtan là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 4.066,5 nghìn USD; tiếp đến là Đài Loan đạt 1.203,5 nghìn USD; Pakixtan đạt 610,0 nghìn USD; Ấn Độ đạt 441,3 nghìn USD; Lào đạt 178,2 nghìn USD; Nhật Bản đạt 60,0 nghìn USD; Hàn Quốc đạt 54,0 nghìn USD.

2. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 10 ước tính đạt 2.490,4 nghìn USD, giảm 7,6% so với tháng trước, giảm chủ yếu do nhập khẩu phân bón giảm 33,3%; nhập khẩu máy móc thiết bị giảm 5,4%; nhập khẩu cỏ Anphapha tăng 2,6%; nhập khẩu hàng hóa khác tăng 6,8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 10 tăng 26,2%, các mặt hàng nhập khẩu đều tăng, trong đó tăng cao nhất là nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 26,3%; nhập khẩu hàng hóa khác tăng 15,3%; nhập khẩu phân bón tăng 14,3%; nhập khẩu cỏ Anphapha đạt 156,0 nghìn USD, cùng kỳ năm trước không phát sinh.

Tính chung 10 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước đạt 23.681,0 nghìn USD, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước do nhập khẩu hàng hóa khác giảm 22,5%; nhập khẩu phân bón giảm 2,0%; riêng nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 8,8%; nhập khẩu cỏ Anphapha tăng 40,1%.

VIII. CHỈ SỐ GIÁ

1. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2017 tăng 0,25% so với tháng trước, trong đó khu vực thành thị tăng 0,27%, khu vực nông thôn tăng 0,23%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 06 nhóm có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,30% (giá lương thực tăng 0,06%; thực phẩm tăng 0,44%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,16% (do nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao khi thời tiết chuyển mùa); nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,52% (các mặt hàng đều tăng cao); giao thông tăng 0,52% (chủ yếu do giá xăng, dầu tăng 1,4% theo Quyết định điều chỉnh tăng giá xăng, dầu ngày 05/10 và giảm nhẹ vào ngày 20/10/2017, bình quân giá xăng tăng 250 đồng/lít, giá dầu tăng 30 đồng/lít); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,05% (chủ yếu do mặt hàng hoa tươi tăng 5,34%); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,29%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số ổn định.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2017 tăng 0,60% so với tháng 12/2016 và tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng tăng 3,78% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Dự báo tháng 11/2017 giá cả thị trường tăng nhẹ.

2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 10/2017 giảm 0,36% so với tháng trước, tăng 1,41% so với tháng 12/2016 và tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước, giá vàng 99,99% bán ra bình quân trong tháng là 3.664.000 đồng/chỉ.

Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,01% so với tháng trước, tăng 0,18% so với tháng 12/2016 và tăng 1,88% so với cùng kỳ năm trước.

IX. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Trong tháng đời sống công chức, viên chức và người hưởng bảo hiểm xã hội ổn định, đời sống dân cư tương đối ổn định, trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói giáp hạt.

Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện, đã tổ chức thăm và tặng quà Tết trung thu cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại xã Mường Chùm, huyện Mường La 05 triệu đồng; phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải trao tặng 640 mũ bảo hiểm, 500 cặp phao cứu sinh cho các em học sinh trên địa bàn xã Mường Giàng, huyện Quỳnh Nhai; vận động nhà tài trợ hỗ trợ giầy TOMs cho 393 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại 02 xã Tân Lang và Mường Lang, huyện Phù Yên; phối hợp với Tạp chí Bảo vệ rừng và môi trường tặng 330 ba lô học sinh, 500 chiếc khăn, 30 thùng sữa tươi, đường trắng, mì chính, tiền mặt cho học sinh tại xã Hua Trai, huyện Mường La.

Trong tháng Ngân hàng chính sách xã hội đã thực hiện các chương trình cho vay đối với 4.460 lượt hộ, tổng số tiền 117.378 triệu đồng. Xuất khẩu lao động sang thị trường Nhật Bản 06 người; công tác tư vấn việc làm, học nghề, xuất khẩu lao động cho 650 lao động; giới thiệu việc làm và cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh 33 lao động; dạy nghề, tuyển sinh đào tạo được 2.762 người.

2. Giáo dục và đào tạo

Trong tháng ngành Giáo dục tiếp tục chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ năm học 2017-2018. Triển khai và kiểm tra thực hiện phong trào thi đua "Đổi mới, sánh tạo trong dạy và học", phong trào "Hai tốt". Triển khai thực hiện kế hoạch tổ chức các hoạt động chuyên môn, văn hóa, văn nghệ, thể thao hướng tới chào mừng 35 năm Ngày nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2017).

3. Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Ngành y tế tiếp tục triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh, phát hiện sớm, khống chế kịp thời các bệnh dịch, đặc biệt là dịch sốt xuất huyết, dại... hưởng ứng diệt loăng quăng bọ gậy và vệ sinh môi trường, phòng chống các bệnh do muỗi truyền. Chỉ đạo Trung tâm Y tế huyện Mường La triển khai Chiến dịch vệ sinh môi trường phòng chống dịch bệnh sau mưa lũ tại huyện Mường La. Trong tháng 10 toàn tỉnh có 18 người nhiễm HIV, 05 trường hợp tử vong do AIDS; 97 trường hợp ngộ độc thực phẩm, không có tử vong.

Chỉ đạo các đơn vị thực hiện tốt công tác khám, điều trị, cấp cứu, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ; tiếp tục triển khai các quy định mới về khám chữa bệnh BHYT; từng bước mở rộng, triển khai các dịch vụ kỹ thuật mới. Trong tháng tổng số lượt khám bệnh tại các sở y tế là 144.921 lượt; số bệnh nhân điều trị nội trú 18.789 người; số bệnh nhân điều trị ngoại trú 86.643 người; số bệnh nhân chuyển tuyến 9.283 người, trong đó chuyển về Trung ương 589 người.

Tiếp tục tổ chức triển khai có hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế về lĩnh vực y tế.

4. Văn hóa, thông tin, thể thao

Tiếp tục tập trung tổ chức tốt công tác thông tin tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Trong tháng phục vụ chiếu phim 378 buổi cho 81.000 lượt người xem; phát hành 04 phim, dịch và lồng thuyết minh tiếng dân tộc 02 phim; xây dựng 05 chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị; biên soạn in 02 số điểm báo, 01 số thông tin khoa học chuyên đề "Tiếp tục đẩy mạnh công tác tiết kiệm phòng, chống tham nhũng lãng phí"; phục vụ 30.210 lượt khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh và các điểm di tích.

Tổ chức thành công Hội thi ẩm thực dân tộc Sơn La năm 2017; tham gia các hoạt động liên hoan Làng du lịch cộng đồng tiêu biểu của Việt Nam tại tỉnh Hòa Bình đạt 02 giải A, 03 giải B và 01 giải C.

Thể thao quần chúng: Phối hợp tổ chức thành công giải cầu lông truyền thống chào mừng kỷ niệm 87 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam. Tham gia giải Cầu lông trung, cao tuổi toàn quốc năm 2017 tranh giải Lotus đạt 02 HCB, 01 HCĐ. Tham gia giải cầu lông câu lạc bộ các tỉnh, thành, ngành toàn quốc năm 2017 tranh cúp Thành Công tại Thành phố Đà Nẵng đạt 01 HCV, 01 HCB, 01 HCĐ.

Thể thao thành tích cao được duy trì, củng cố và phát triển các đội tuyển tỉnh (35 VĐV), đội tuyển trẻ (51 VĐV) và đội tuyển năng khiếu (28 VĐV). Tham gia giải vô địch Pencaksilat tại tỉnh Hà Tĩnh đạt 02 HCB, 03 HCĐ; tham gia giải vô địch các câu lạc bộ Taekwondo toàn quốc tại tỉnh Bình Thuận đạt 03 HCV, 02 HCB, 05 HCĐ, 05 lượt VĐV đạt cấp I, 03 lượt VĐV đạt kiện tướng; tham gia thi đấu giải Boxing toàn quốc tại tỉnh Bắc Ninh đạt 01 HCB, 01 lượt VĐV đạt kiện tướng.

Phát thanh tiếng phổ thông 93 chương trình, sử dụng 584 tin, bài, phóng sự, 101 chuyên đề, chuyên mục, 02 chương trình phát thanh trực tiếp. Tiếng dân tộc 124 chương trình, sử dụng 705 tin, bài, phóng sự, gương người tốt, việc tốt, 96 chuyên đề, chuyên mục.

Truyền hình tiếng phổ thông thực hiện 280 chương trình, sử dụng 212 lượt chuyên đề, chuyên mục, 1.157 tin, bài, phản ánh, phỏng vấn, phóng sự, gương người tốt, việc tốt, 31 trang truyền hình cơ sở. Tiếng dân tộc thực hiện 71 chương trình, sử dụng 553 tin, bài phóng sự, 34 lượt chuyên đề, chuyên mục.

5. Công tác phòng chống ma tuý

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo 2968 đến ngày 15/10/2017 toàn tỉnh có 8.660 người nghiện ma tuý đang trong diện quản lý, trong đó có 1.720 người đang cai nghiện tập trung tại các Trung tâm giáo dục lao động, 57 người đang quản lý tại cơ sở quản lý sau cai, 1.355 người đang điều trị bằng Methadone.

6. An toàn giao thông

Trong tháng 10 trên địa bàn tỉnh xảy ra 11 vụ tai nạn, va chạm giao thông làm chết 02 người và bị thương 15 người. Lũy kế 10 tháng xảy ra 112 vụ tai nạn, va chạm giao thông làm chết 57 người và bị thương 110 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 10 vụ, số người chết giảm 20 người, số người bị thương tăng 06 người.

7. Thiệt hại do thiên tai

Từ ngày 10 - 12/10 do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh của gió Đông Nam, trên địa bàn tỉnh xảy ra mưa lớn, lũ xuất hiện trên các suối gây thiệt hại về người và tài sản, cụ thể: 16 người chết, mất tích, bị thương; 16.895 m chiều dài kênh mương bị sạt lở, vùi lấp, cuốn trôi; 68 phai thủy lợi bị cuốn trôi, hư hỏng; 41 cầu, cống bị phá hủy, hư hỏng; 620 m chiều dài đường xe cơ giới bị ngập và 46.677 m bị sạt lở, cuốn trôi; khối lượng đất, đá, bê tông, ta luy đường bị sạt lở, cuốn trôi khoảng 431.333 m3; 129 cột điện bị gãy, đổ; 12 km đường dây điện bị đứt; 944 ha lúa bị ngập, hư hỏng; 245 ha hoa màu, rau bị ngập, hư hỏng; 581 con gia súc và 8.726 con gia cầm chết, cuốn trôi; 83 ha ao cá bị ngập, cuốn trôi 9,9 tấn cá và 18 lồng cá; 878 nhà bị sập, bồi lấp, cuốn trôi, đá lăn, ngập nước, sạt lở, phải di dời khẩn cấp; thiệt hại 44 trường/điểm trường, cơ sở y tế, công trình văn hóa, trụ sở cơ quan; mưa lũ gây thiệt hại nặng về giao thông, nhiều đoạn đường bị chia cắt, sụt lún nền, mặt đường, ngập úng gây ách tắc giao thông; một số xã bị cô lập; hệ thống điện 35KV huyện Phù Yên, Bắc Yên bị tê liệt, 29 xã bị mất điện. Ước giá trị thiệt hại khoảng 1.066.233 triệu đồng.

Công tác khắc phục hậu quả: Đã tổ chức thăm hỏi, động viên và hỗ trợ tạm thời mỗi hộ gia đình bị thiệt hại về nhà cửa (sạt lở, sập đổ hoàn toàn) 10 triệu đồng; hỗ trợ ổn định đời sống 8,3 tấn gạo, 100 chăn bông, 50 thùng mì tôm, 50 chiếc màn; các tuyến đường tỉnh đã thông xe không để ách tắc kéo dài; mạng lưới điện đã khắc phục được 08/29 xã có điện trở lại; các trường học đã dọn vệ sinh kịp thời để trở lại hoạt động; ngành y tế theo dõi, dự báo, đánh giá tình hình dịch bệnh, kịp thời phụ tẩy hóa chất khử trùng môi trường, không để dịch bệnh bùng phát sau lũ.

8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng cơ quan chức năng đã phát hiện, xử lý 18 vụ với 18 đối tượng vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, khai thác cát trái phép, gây ô nhiễm môi trường, nuôi nhốt động vật quý hiếm… Lũy kế từ đầu năm đã phát hiện, xử lý 368 vụ với 379 đối tượng vi phạm các quy định trên.

Tháng 10 trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nhà, làm 02 người chết, ước tính thiệt hại 40 triệu đồng. Lũy kế 10 tháng xảy ra 30 vụ cháy, nổ làm 04 người chết và thiệt hại ước tính 4.359 triệu đồng./.

Cục Thống kê tỉnh Sơn La


THÔNG TIN CẢI CÁCH


THỐNG KÊ TRUY CẬP

Tổng số lượt truy cập: 43039378
Số người đang truy cập: 50