Thông tin đối ngoại

Liên hợp quốc với sự hình thành, phát triển hệ thống nhân quyền quốc tế
Thu, 25/08/2016 14:00 | GMT +7
Bảo vệ quyền con người xuất hiện từ rất sớm nhưng Luật Quốc tế về quyền con người (Luật Nhân quyền Quốc tế ) mới ra đời trong thời kỳ hiện đại, gắn liền sự ra đời của Liên hợp quốc.

Cùng với đòi hỏi chung trong sự phát triển xã hội, thảm kịch của cuộc Chiến tranh thế giới thứ 2 đã đặt loài người trước yêu cầu cấp bách là thành lập một tổ chức quốc tế với cơ chế đủ sức ngăn ngừa chiến tranh, duy trì hòa bình, bảo đảm an ninh và tôn trọng các quyền con người. Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các lực lượng dân chủ và tiến bộ trên thế giới đã nhất trí thành lập liên hợp quốc, đặt nền móng cho sự ra đời một hệ thống an ninh toàn cầu. Với việc thông qua các văn kiện nổi tiếng là Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn nhân quyền thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử quyền con người được bảo vệ trên quy mô toàn thế giới. Theo đó, Luật Nhân quyền Quốc tế chính thức ra đời.

Luật Nhân quyền Quốc tế là một hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực và cơ chế giám sát, điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trên lĩnh vực nhân quyền. Luật Nhân quyền Quốc tế có những đặc trưng chung của Luật quốc tế hiện đại, bao gồm chủ thể, quy trình xây dựng và thực thi. Nguồn của Luật Nhân quyền Quốc tế bao gồm các văn kiện có tính ràng buộc về pháp lý (gọi chung là điều ước quốc tế dưới dạng công ước, nghị định thư…) và các văn kiện không có tính ràng buộc về mặt pháp lý (dưới dạng tuyên ngôn, tuyên bố…). Đến nay, Liên hợp quốc đã ban hành hàng trăm văn kiện về quyền con người, trong đó có hơn 30 điều ước nhân quyền quốc tế.

Thông qua Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế , cộng đồng quốc tế đã thừa nhận những quyền con người cơ bản, đó là các quyền:không bị phân biệt đối xử, quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền được bảo vệ không bị bắt làm nô lệ, quyền không bị tra tấn, quyền có tư cách pháp lý ở mọi nơi; quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, quyền được bồi thường khi bị vi phạm; quyền được bảo vệ khỏi bị bắt giữ, giam cầm hoặc lưu đày một cách tùy tiện; quyền được xét xử bởi một tòa án độc lập và không thiên vị; quyền được suy đoán vô tội; quyền được bảo vệ không bị áp dụng luật hồi tố; quyền về đời tư; quyền tự do đi lại; quyền có quốc tịch; quyền kết hôn và lập gia đình; quyền được bảo vệ và trợ giúp gia đình; các quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong hôn nhân; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo…

Ngoài Luật Nhân quyền Quốc tế còn có nhiều ngành luật khác nhau tham gia bảo vệ quyền con người. Các ngành luật này ngày càng bổ sung cho nhau trong việc bảo vệ quyền con người nhằm mục tiêu để mỗi cá nhân đạt tới tự do và nhân phẩm tối đa. Để phổ cập và thực thi hiệu quả Luật Nhân quyền Quốc tế , Liên hợp quốc luôn coi trọng việc xây dựng, củng cố và khuyến khích phát triển các cơ chế nhân quyền của mình, cũng như ở các khu vực và quốc gia.

Cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc bao gồm cơ chế theo Hiến chương và cơ chế theo công ước. Cơ chế theo Hiến chương là việc phân công trách nhiệm về nhân quyền cho các cơ quan của Liên hợp quốc. Hội đồng nhân quyền ra đời năm 2006 (thay thế Ủy ban nhân quyền) trong tiến trình cả tổ bộ máy nhân quyền Liên hợp quốc với nhiều thẩm quyền hơn trong việc bảo vệ quyền con người. Cơ chế theo công ước là việc thành lập cơ quan giám sát theo quy định tại công ước, đã có 10 cơ quan được thành lập theo các quy định này. Các cơ quan công ước đều có nhiệm vụ nhận, xem xét báo cáo quốc gia theo quy định của mỗi công ước, đồng thời nhận thông tin về tình hình nhân quyền của quốc gia từ nhiều nguồn khác. Trên cơ sở đó, các ủy ban đưa ra khuyến nghị đối với quốc gia về việc thực hiện công ước.

Như Thủy (Tổng hợp)


THÔNG TIN CẢI CÁCH


THỐNG KÊ TRUY CẬP

Tổng số lượt truy cập: 33731508
Số người đang truy cập: 27