Số liệu thống kê

Tổng hợp tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2013
Fri, 25/10/2013 14:57 | GMT +7

 


I. Tăng trưởng kinh tế

(Theo giá so sánh 2010)

Lĩnh vực

So với 9 tháng năm 2012 (%)

Tổng sản phẩm

Tăng 7,78

Nông nghiệp

Tăng 4,01

Lâm nghiệp

Giảm 13,50

Thủy sản

Tăng 9,35

CN khai khoáng

Giảm 8,34

CN chế biến, chế tạo

Tăng 5,02

Sản xuất và phân phối điện khí đốt

Tăng 65,55

CN nước, hoạt động quản lý và xử lý chất thải

Tăng 8,32

Xây dựng

Giảm 10,37

II. Tài chính, ngân hàng

1. Ngân sách nhà nước

Lĩnh vực

9 tháng năm 2013

So với dự toán năm (%)

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tổng thu ngân sách NN

6353,2 tỷ đồng

80,6

 

Thu ngân sách

1515 tỷ đồng

84,2

 

Thu bổ sung từ cân đối ngân sách TW

4838,2 tỷ đồng

81,0

 

Thu thuế

1515 triệu đồng

84,2

Tăng 24,9

Chi ngân sách

5684 tỷ đồng

72,1

 

2. Ngân hàng, tín dụng

Lĩnh vực

9 tháng năm 2013 (tỷ đồng)

So với cùng kỳ năm trước

Tổng thu tiền mặt

43369,8

Tăng 17,4%

Tổng chi tiền mặt

45234,8

Tăng 15,9 %

Bội chi tiền mặt

1865

 

Dư nợ tín dụng

13600

Tăng 22,8%

Dư nợ ngắn hạn

6200

Tăng 19,9%

Dư nợ trung dài hạn

7400

Tăng 25,3%

III. Vốn đầu tư và xây dựng

1.     Vốn đầu tư

Lĩnh vực

 

9 tháng năm 2013 (triệu đồng)

Tổng vốn đầu tư

 

8628297

Vốn NN

6111792

Vốn ngoài nhà nước

2452465

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

64040

Tổng vốn đầu tư thuộc ngân sách NN do tỉnh quản lý

 

737772

Vốn cân đối ngân sách NN

370121

Vốn TW hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu

277556

2.     Xây dựng

Giá trị sản xuất kinh doanh ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh sơn La 9 tháng năm 2013 (theo giá hiện hành) ước tính đạt 3073833 triệu đồng. Giá trị sản xuất xây dựng (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 2294781 triệu đồng tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước.

IV Các ngành kinh tế then chốt

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

1.1  Nông nghiệp

1.1.1Trồng trọt

·         Cây hàng năm

Cây trồng

Diện tích (ha)

So với cùng kỳ năm trước (%)

Cây lương thực có hạt

219569

Giảm 4,2

Cây lấy củ có chất bột

32492

Tăng 4,0

Cây mía

4838

Tăng 3,9

Cây lấy sợi

451

Giảm 51,8

Cây có hạt chứa dầu

5024

Giảm 17,8

Cây rau, đậu, hoa, cây cảnh

8060

Giảm 0,6

Cây hàng năm khác

3661

Tăng 51,5

·         Cây lâu năm

Cây trồng

Diện tích (ha)

So với cùng kỳ năm trước (%)

Cây ăn quả

18023

Giảm 1,5

Cây lấy sản phẩm cho CN chế biến

21403

Tăng 7,7

 

1.1.2 Chăn nuôi

Vật nuôi

Số lượng (con)

Sản lượng (tấn)

Trâu

159344

3930

192354

3442

Lợn

434207

25890 

Ngựa

15223

 

135619

 

Gia cầm

5227 nghìn con

5852

 

1.2  Lâm nghiệp

Lĩnh vực

Giá trị (triệu đồng)

Sản xuất lâm nghiệp

677497

Trồng rừng và nuôi dưỡng rừng

135754

Khai thác lâm sản

362481

Thu nhặt từ rừng

72406

1.3 .Thuỷ sản.

Lĩnh vực

Giá trị (triệu đồng)

Nuôi trồng thủy sản

177572

Khai thác thủy sản

32899

V. Sản xuất công nghiệp

1. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp:

 Sản xuất công nghiệp

Giá trị (triệu đồng)

CN khai khoáng

68500

CN chế biến, chế tạo

3304800

CN sx phân phối điện, khí đốt, nước nóng và điều hòa không khí

1198700

CN nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải

71560

  

2. Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Sản phẩm

So với cùng kỳ năm trước (%)

Trà xanh

Tăng 6,6

Sữa chua

Tăng 24,2

Sản phẩm sữa chế biến khác

Tăng 18,5

Đường kính

Tăng 16,0

Gạch xây

Tăng 12,6

Xi măng

Tăng 138,2

Cột bê tông

Giảm 11,6

Điện thương phẩm

Tăng 5,1

Nước thương phẩm

Tăng 6,2

Than khai

Giảm 13,6

Đá xây dựng

Giảm 7,9

Sữa tươi tiệt trùng

Giảm 14,2

Điện sản xuất

Tăng 157,1

2.3. Giao thông, vận tải

Loại hình

9 tháng năm 2013

So với cùng kỳ năm trước (%)

Vận chuyển hàng hoá

2538 nghìn tấn

Tăng 4,8

Hàng hoá luân chuyển

267384 nghìn tấn.km

Tăng 5,7

Doanh thu vận tải hàng hoá

 

Tăng 15,8

Vận chuyển hành khách

2196 nghìn luợt người

Tăng 4,4

Luân chuyển hành khách

210214 triệu lượt người

Tăng 5,8

Doanh thu vận tải hành khách

 

Tăng 15,6

 

VI. Thương mại, dịch vụ và giá cả

1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng.

Thành phần

9 tháng năm 2013 (tỷ đồng)

Tăng so với cùng kỳ năm trước (%)

Kinh tế NN

1650,2

8,2

Kinh tế ngoài NN

9104,13

18,3

1,22(KT tập thể)

14,0

6350,54(KT cá thể)

13,9

2752,37 (KT tư nhân)

29,8

Thương nghiệp

9036,71

15,5

Dịch vụ lưu trú và ăn uống

720,55

21,7

Dịch vụ

997,49

14,0

2. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hoá

Kim nghạch

9 tháng đầu năm 2013 (nghìn USD)

So với cùng kỳ năm truớc

Xuất khẩu

3365,1

Tăng 14,7 %

Nhập khẩu

4221,2

Bằng 20,4%

3. Tình hình giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng chung bình quân hàng tháng từ đầu năm đến nay so với cùng kỳ năm trước tăng 11,05%, chỉ số giá tháng 1, tháng 2 tăng mạnh, tháng 3, tháng 4, tháng 5 giá cả đã chững lại và giảm thấp dần, từ tháng 6 đến tháng 9 giá cả tiếp tục tăng nhẹ, tuy nhiên một số nhóm hàng giá vẫn giữ ở mức cao (So với cùng kỳ năm trước tháng 1 tăng 10,83%, tháng 2 tăng 11,06%, tháng 3 tăng 11,46%, tháng tư tăng 9,91%, tháng 5 tăng 9,20%, tháng 6 tăng 10,27%, tháng 7 tăng 12,18%, tháng 8 tăng 12,64% và tháng 9 tăng 11,94%). Hầu hết các nhóm, ngành hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng riêng giá ngành bưu chính viễn thông  giảm. Chỉ số tăng cao nhất là nhóm hàng thuốc và dụng cụ y tế tăng 143,36%  tiếp đến là nhóm hàng giáo dục tăng 12,04%, nhóm hàng may mặc, mũ nón, dầy dép tăng 9,64%, nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 9,59%, nhóm hàng  nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 8,72%, nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 6,55%, nhóm hàng giao thông  tăng 6,40%,  nhóm hàng thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 5,72%, nhóm hàng văn hoá, giải chí và du lịch tăng 5,10%, nhóm hàng  ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,30% (trong đó lương thực giảm 4,66%, thực phẩm tăng 3,14%, ăn uống ngoài gia đình tăng 15,71%). Chỉ số giá vàng bình quân 9 tháng giảm 3,62% và giá USD tăng 0,77% so với cùng kỳ năm trước.

Sau 9 tháng (so với tháng 12/2012) chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng  năm 2013 là 103,96% tăng 3,96%, bình quân 1 tháng tăng 0,42%. Có 10/11 nhóm, ngành hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, riêng bưu chính viễn thông giảm 1,26%. Để bình ổn giá vàng Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết địng số 16/2013/QĐ-TTg về việc mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước của Ngân hàng Nhà nước đã tác động đến giá vàng. Chỉ số giá vàng giảm 10,90% và giá USD  tăng 0,34%.

III. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư

Đời sống  nông dân được cải thiện nhưng thiếu tính bền vững đặc biệt là đối với người nghèo, người có thu nhập thấp, các hộ dân vùng tái định cư còn gặp nhiều khó khăn nhất là trong việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi và đất sản xuất, tình trạng thiếu đói giáp hạt vẫn sảy ra, theo báo cáo của 11 Chi cục Thống kê huyện, thành phố đói giáp hạt xuất hiện từ tháng 1/2013 với 4605 hộ và 21857 nhân khẩu, tháng cao điểm của thiếu đói giáp hạt (tháng 5/2013) có 7521 hộ và 36626 nhân khẩu thiếu đói chiếm 2,99% hộ và 3,21% số nhân khẩu toàn tỉnh. Số hộ thiếu đói xảy ra ở diện hẹp, số nhân khẩu thiếu đói chủ yếu là thiếu gạo, không có đói gay gắt. So với cùng kỳ năm trước đời sống nông dân có khá hơn. Để hỗ trợ cho các hộ gia đình thiếu đói từ tháng 02/2013 đến tháng 4/2013 Chính phủ đã hỗ trợ dịp tết Nguyên đán và giáp hạt năm 2013 là 4036 tấn gạo, còn lại dân tự vay nhau để khắc phục thiếu đói, đói giáp hạt toàn tỉnh đã kết thúc vào cuối tháng 6 năm 2013. Hiện nay nông dân trong tỉnh đang tập trung khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra ở một số nơi và chăm sóc lúa mùa và cây trồng vụ thu, chăm sóc cây công nghiệp, rừng trồng mới và thu hoạch ngô vụ xuân hè.

Đời sống cán bộ, công nhân viên chức và người hưởng bảo hiểm xã hội ổn định; từ 01/7/2013 Nhà nước điều chỉnh mức lương tối thiểu chung từ 1050 ngàn đồng lên 1150 ngàn đồng cho những người hưởng lương, bảo hiểm xã hội, tăng 9,5%  lương tối thiểu; hiện nay giá hàng hoá tiêu dùng cơ bản trên thị trường tăng nhẹ. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2013 so với cùng kỳ năm trước tăng 11,05%, trong đó khu vực thành thị tăng 11,16%, khu vực nông thôn tăng 11,00%...Riêng đời sống công nhân  hiện nay vẫn còn một số cơ sở sản xuất gặp khó khăn, vì vậy đời sống của công nhân chưa được cải thiện nhiều.

 Các  chương trình xoá đói giảm nghèo, cho vay vốn phát triển sản xuất, cho vay hỗ trợ lãi suất, chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên nghèo và các đối tượng chính sách tiếp tục được các cấp chính quyền địa phương, cơ quan chức năng chỉ đạo, phối hợp thực hiện. Năm 2013 Uỷ ban nhân dân tỉnh tiếp tục đầu tư các nguồn ngân sách cho các chương trình trọng điểm của tỉnh: Hỗ trợ đầu tư hạ tầng cho 1105 bản có điều kiện kinh tế - xã hội còn đặc biệt khó khăn; đầu tư trụ sở xã; hỗ trợ chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới…

Phong trào đền ơn đáp nghĩa, phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn luôn được quan tâm và chú trọng; tỉnh, các cấp, các ngành, các huyện/thành phố thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về các chính sách: Chăm sóc đời sống các đối tượng người có công trong dịp tết cổ truyền, ngày Thương binh liệt sỹ chuyển quà của Chủ tịch nước, tặng quà của tỉnh, huyện/thành phố tới các đối tượng chính sách, đơn vị và các đối tượng xã hội. Các cấp tỉnh, huyện/thành phố và các xã/phường/thị trấn trong tỉnh đã tổ chức các đoàn đại biểu đi thăm hỏi và tặng quà đến các đơn vị và đối tượng; đã chi trả kịp thời đúng đối tượng, đúng quy định. Kết quả tặng quà, trợ cấp xã hội trong dịp tết Quý Tỵ và ngày Thương binh liệt sỹ năm 2013 với tổng số xuất quà: 34266 suất trị giá 12596,2 triệu đồng.

Đời sống các tầng lớp dân cư 9 tháng năm 2013 trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định; toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, thực hiện tốt các chính sách xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, chăm lo đời sống người có công, gia đình thương binh, liệt sĩ; tiếp tục thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh đặc biệt là khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi; quan tâm đầu tư cho dân cư các huyện nghèo, huyện thuộc chương trình 30a bằng nhiều nguồn vốn được lồng ghép để đảm bảo giảm nghèo nhanh và bền vững, triển khai thực hiện các chính sách đặc biệt là các chính sách hỗ trợ chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ mở rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả, tạo việc làm, tăng thu nhập.Việc huy động các nguồn vốn cho các hộ nghèo vay được các cấp, các ngành, các huyện quan tâm tuyên truyền vận động góp phần tạo thêm việc làm, hỗ trợ học sinh, sinh viên các hộ nghèo có điều kiện tham gia học tập, lao động; nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân ở những huyện còn gặp nhiều khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, tập trung hỗ trợ cho các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Sơn La theo nghị quyết của tỉnh; công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho các hộ dân tái định cư sản xuất nông nghiệp cần được triển khai sâu rộng; quan tâm đẩy nhanh tốc độ đầu tư kết cấu hạ tầng. Việc ổn định đời sống, tổ chức sản xuất, đào tạo nghề, phát triển bền vững cho đồng bào tại các điểm tái định cư mới vẫn còn là một nhiệm vụ quan trọng, nhiều khó khăn, đòi hỏi quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị của tỉnh trong thời gian tới.

2. Giáo dục, đào tạo

Giáo dục phổ thông: Năm học 2012-2013 các trường học trong toàn tỉnh đã hoàn thành chương trình dạy học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổ chức kiểm tra đánh giá công khai chất lượng giáo dục đối với các cấp học; tổ chức thi học sinh giỏi quốc gia lớp 12 Trung học phổ thông, có 8 thí sinh đạt giải quốc gia (1 giải Nhì, 3 giải Ba, 4 giải Khuyến khích); thi giáo viên dạy giỏi bậc tiểu học toàn tỉnh năm học 2012-2013, có 91 giáo viên được công nhận danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh; thi Olimpic Tiếng Anh qua  internet cấp tỉnh cho học sinh phổ thông lớp 5, lớp 9 và lớp 11, có 23 học sinh đạt giải (2 HCV, 3 HCB, 9 HCĐ và 9 giải Khuyến khích); thi giao lưu học sinh giỏi lớp 5 toàn tỉnh năm học 2012-2013, có 147 em đạt giải; thi chọn học sinh giỏi lớp 9 trung học cơ sở cấp tỉnh năm học 2012-2013 có 334 em đạt giải (9 giải nhất, 75 giải nhì, 97 giải 3, 153 giải khuyến khích); thi giải toán qua internet cấp tỉnh cho học sinh phổ thông lớp 5, lớp 9 và lớp 11, có 32 em đạt giải (1HCV, 6 HCB, 10 HCĐ, 15 giải khuyến khích). Tham gia Giải Olimpic Vật lý Châu Á đạt 01 HCV và 01 HCV Olimpic môn Vật lý quốc tế; tham gia cuộc thi giải Toán và tiếng Anh cấp quốc gia qua internet cho học sinh phổ thông: môn toán có 15 em đạt giải (6 HCB, 5 HCĐ, 4 giải khuyến khích), Tiếng anh được 4 bằng danh dự…

Hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2013, kết quả: Trung học phổ thông có 8465 thí sinh dự thi, có 7851 thí sinh đỗ tốt nghiệp, đạt 92,75%, giảm 7,02% so với năm học trước; bổ túc trung học phổ thông có 1470 thí sinh dự thi, có 1300 thí sinh đỗ tốt nghiệp, đạt 88,44%,  giảm 10,53%  so với năm học trước. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; phối hợp với Hội khuyến học tỉnh tổ chức thành công Đại hội biểu dương gia đình hiếu học, dòng học hiếu học, cộng đồng khuyến học tỉnh Sơn La lần thứ III. Phối hợp với các ngành liên quan, các địa phương trong tỉnh tổ chức các hoạt động sinh hoạt hè; tổ chức bồi dưỡng thường xuyên hè năm 2013 cho cán bộ, giáo viên các ngành học, bậc học trong tỉnh; duyệt kết quả tuyển sinh vào các lớp đầu cấp mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên năm học 2013-2014. Theo kế hoạch năm học 2013 - 2014 toàn tỉnh dự kiến huy động: Số trẻ em trong độ tuổi đi học mầm non là 83144 trẻ; số trẻ 6 tuổi vào lớp 1 là 25768 trẻ; số học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào lớp đầu cấp Trung học cơ sở là 20577 học sinh; số học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở vào lớp 10 Trung học phổ thông và bổ túc Trung học phổ thông là 10584 học sinh. Khai giảng năm học mới được đảm bảo theo kế hoạch (5/9/2013).

Giáo dục chuyên nghiệp: Sơ bộ năm học 2013 - 2014 các trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Sơn La dự kiến tuyển mới 10695 sinh viên, trong đó: Hệ đại học chính quy là 1525 sinh viên; hệ cao đẳng chính quy là 3095 sinh viên; hệ trung cấp chính quy là 3185 sinh viên; còn lại là các hình thức đào tạo khác.

3. Y tế

Ngành Y tế tiếp tục tăng cường chỉ đạo các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh xây dựng thực hiện tốt việc theo dõi, giám sát, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các trường hợp mắc bệnh, đặc biệt là dịch cúm gia cầm, cúm A (H5N1) ở người, bệnh sởi, thương hàn, sốt xuất huyết, dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm và dịch chân tay miệng… không để bệnh dịch phát sinh và lan rộng.

Theo báo cáo thống kê y tế tính đến hết tháng 8/2013 toàn tỉnh có 19547 số ca mắc cúm, 8586 ca tiêu chảy, 99 ca tay chân miệng; so với cùng kỳ năm trước số ca mắc cúm giảm 26,69% (7118 ca), số ca mắc tiêu chảy tăng 4,09% (337 ca).

Kiểm tra sát sao các cơ sở sản xuất, chế biến, cung cấp thực phẩm, hạn chế tối đa các vụ ngộ độc do thức ăn gây ra, tuy nhiên trong 8 tháng  năm 2013 toàn tỉnh vẫn xảy ra 1036 trường hợp ngộ độc thức ăn, có 2 trường hợp tử vong.

Chương trình phòng chống sốt rét có 47 ca mắc sốt rét thường, không có sốt rét ác tính, không có tử vong, so với cung kỳ năm trước số ca mắc sốt rét giảm 42 ca (47,19%). Công tác tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS tiếp tục duy trì trên các phương tiện thông tin đại chúng và tuyên truyền trực tiếp đến mọi người dân, tuy nhiên số người nhiễm HIV vẫn tăng cao, số nhiễm HIV mới được phát hiện trong 8 tháng năm 2013 (từ 01/01/2013 đến 20/8/2013) là 483 ca, số AIDS 399 ca, số tử vong do AIDS là 138 ca.

Thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh, đặc biệt là khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi tại các cơ sở y tế trong toàn tỉnh: Tổng số lần khám bệnh tại các sở y tế là 913132 lần/người; số bệnh nhân điều trị nội trú là 86046 người; số bệnh nhân điều trị ngoại trú (gồm cả kê đơn) là 402043 người.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế về lĩnh vực y tế như Dự án LIFE-GAP; dự án phòng chống HIV/AISD do WB tài trợ; dự án "Hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên" do EC viện trợ; dự án "Hỗ trợ y tế các tỉnh miền núi phía bắc"; dự án nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng; dự án tiểu vùng sông Mê Kông; dự án quỹ toàn cầu phòng chống Sốt rét; chương trình "Giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh" do Hà Lan tài trợ; dự án chăm sóc mắt ban đầu do CBM tài trợ.

4. Văn hoá thông tin, thể thao, phát thanh truyền hình

Tập trung tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tuyên truyền phục vụ công tác sau di dân tái định cư Thuỷ điện Sơn La, xây dựng nông thôn mới phục vụ kỷ niệm các ngày lễ lớn và các sự kiện chính trị của đất nước và của tỉnh… tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại''.

Tổ chức biểu diễn thành công chương trình nghệ thuật Mùa xuân dâng Đảng; Vòng tay ấm áp; Xuân chiến sỹ; Sơn La kết nối trái tim; Thuỷ điện Sơn La trọn vẹn niềm tin; Dâng Đảng tiếng hát niềm tin mừng Đảng - mừng Xuân Quý Tỵ 2013, chào mừng Lễ khánh thành Nhà máy thuỷ điện Sơn La và chào mừng ngày thành lập Đảng 3/2, ngày giải phóng miền nam 30/4, ngày Quốc tế lao động 1/5 và Quốc khánh 2/9…

Tổ chức thành công Liên hoan Âm nhạc khu vực phía Bắc năm 2013 tại Sơn La, có 3 tác phẩm  đạt giải A và 01 tác phẩm đoạt giải khuyến khích.

Tổ chức chiếu phim 3780 buổi, trong đó chiếu phim tại vùng cao 3450 buổi, vùng thấp 330 buổi, phục vụ 985894 lượt người xem. Tổ chức phục vụ khách tham quan Bảo tàng và các di tích 174943 lượt người.

Tham gia liên hoan ca - múa - nhạc chuyên nghiệp 4 nước Việt Nam - Lào -  Campuchia - Myanma tại tỉnh Quảng Trị đạt HCB chương trình, 02 HCV, 02 HCB cho các tiết mục, đạt giải múa xuất sắc, giải cho dàn nhạc xuất sắc và giải trang trí  mỹ thuật xuất sắc.

Thể dục thể thao quần chúng  tổ chức thành công Giải Quần vợt Mừng Đảng - Mừng Xuân Quý Tỵ; giải đẩy gậy, kéo co và bắn nỏ toàn tỉnh năm 2013. Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức Giải Điền kinh học sinh lần thứ IX năm 2013; tham gia Giải Cầu lông câu lạc bộ các tỉnh, ngành toàn quốc tại tỉnh Hải Dương đạt 2 HCĐ; tham gia Giải Quần vợt hữu nghị Hùng Vương lần thứ VII năm 2013 tại tỉnh Phú Thọ; tham dự Hội thi thể thao dân tộc thiểu số toàn quốc khu vực I tại tỉnh Lào Cai đạt 21 huy chương các loại (6 HCV, 9 HCB, 6 HCĐ) xếp thứ 2 toàn đoàn; chuẩn bị các điều kiện tổ chức Giải vô địch Bóng đá thiếu niên nhi đồng Cúp Báo Sơn La và phát hành Điều lệ Giải Cờ vua thiếu niên nhi đồng toàn tỉnh năm 2013; tham dự thể thao người khuyết tật toàn quốc tại Hà Nội đạt 02 HCV, 03 HCB, 05 HCĐ; giải bắn nỏ toàn quốc tại Bắc Cạn đạt 05 HCV, 05 HCB, 02 HCĐ.

Thể thao thành tích cao được duy trì, củng cố và phát triển các đội tuyển tỉnh, đội tuyển trẻ và đội tuyển năng khiếu tại Trung tâm đào tạo và huấn luyện VĐV thể thao tỉnh (đội tuyển tỉnh 24 VĐV, đội tuyển trẻ 54 VĐV, đội tuyển năng khiếu 85VĐV).Tham gia thi đấu giải Taekwondo Cúp các câu lạc bộ toàn quốc tại thành phố Hà Nội đạt 1 HCV, 1 HCB, 4 HCĐ, 2 VĐV được phong kiện tướng; thi đấu giải Taekwondo vô địch học sinh toàn quốc tại Hà Nội đạt 11 HCV, 6 HCB, 12 HCĐ; thi đấu giải vô định điền kinh nhóm tuổi trẻ tại Hà Nội đạt 1 HCV, 1 HCB; tham gia giải trẻ toàn quốc môn Taekwondo tại Hậu Giang  đạt 4 HCV, 2 HCB, 1 HCĐ, 4 VĐV được phong kiện tướng quốc gia, 3 VĐV cấp một quốc gia, xếp thứ 3 toàn đoàn; tham gia thi đấu môn PencakSilat giải vô địch câu lạc bộ toàn quốc năm 2013 tại Hà Tĩnh đạt 1 HCB,1VĐV đạt cấp I; tham gia thi đấu vô địch Đông Nam Á môn Taekwondo tại Myanma đạt 1 HCĐ; đội tuyển Muay tham ra giải vô địch CLB toàn quốc năm 2013 tại Bình Phước; đội tuyển Boxing tham dự giải vô địch thiếu niên trẻ toàn quốc tại thành phố Buôn Mê Thuật; đội tuyển PencakSilat tham gia thi đầu giải vô địch trẻ toàn quốc tại Tuyên Quang đạt 3 HCĐ; đội tuyển bóng đá nữ tham dự giải bóng đá nữ tại Hà Nam đạt giải phong cách; đội tuyển điền kinh tham ra giải Quốc tế mở rộng tại thành phố Hồ Chí Minh.

5. An toàn giao thông

Tiếp tục củng cố, kiện toàn và đẩy mạnh hoạt động có hiệu quả của Ban An toàn giao thông các cấp; huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc trong công tác bảo đảm TTATGT nhằm góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tai nạn giao thông trên địa bàn toàn tỉnh. Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04 tháng 9 năm 2012 của Ban Bí thư Trung ương. Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo đảm TTATGT, hoàn thành việc ký cam kết giữa người tham gia giao thông với chủ thể quản lý. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo đảm TTATGT trên các lĩnh vực: quản lý kết cấu hạ tầng gia thông; đào tạo, sát hạch; đăng ký, đăng kiểm phương tiện tham gia giao thông; phối hợp tổ chức kiểm tra và xử lý theo các chuyên đề về xe chở quá khổ, quá tải trọng cho phép và xe chạy quá tốc độ...

Theo báo cáo của Công an tỉnh, từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 298 vụ tai nạn, va chạm giao thông làm chết 87 người và làm bị thương 307 người.

6. Thiệt hại do thiên tai

Theo báo cáo của Ban chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh, từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã xảy ra mưa to và rất to, gió lốc, nắng hạn, lũ lụt làm thiệt hại về người, tài sản và sản xuất của nhân dân gồm:

Thiệt hại về người: 12 người chết, 03 người mất tích và 18 người bị thương.

Thiệt hại về nhà ở: 222 nhà bị sập, ngập, cuốn trôi; 10527 nhà ở, 46 phòng học bị ngập, sạt lở, tốc mái, hư hại.

Thiệt hại về sản xuất nông nghiệp: hơn 400 ha lúa, hơn 2800 ha hoa màu và khoảng 111 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị ngập, bị hư hỏng.

Thiệt hại về công trình thuỷ lợi, giao thông: 273 công trình thuỷ lợi, 32 công trình giao bị đổi, trôi phá huỷ, chiều dài đường xe cơ giới bị sạt lở, cuốn trôi 7225m.

Ước tính tổng giá trị thiệt hại do mưa lớn, mưa đá, gió lốc gây ra trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2013 khoảng 223145 triệu đồng.

7. Phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường

Theo báo cáo của phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an tỉnh, từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy thiệt hại ước tính khoảng 2441 triệu đồng; 5 ha cây cao su. Từ đầu năm đến nay các cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý 2 vụ vi phạm môi trường với số tiền phạt là 25 triệu đồng. 

 

Khái quát lại: Kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 9 năm 2013 đạt được một số kết quả nhất định, tăng trưởng ổn định và ở mức hợp lý. Lạm pháp được kiềm chế, khó khăn của các doanh nghiệp đang dần phục hồi, Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản của tỉnh được quan tâm chỉ đạo đạt được kết quả tích cực; sản xuất công nghiệp có nhiều chuyển biến, tiêu thụ sản phẩm đã thuận lợi hơn, lượng hàng tồn kho giảm dần; thương mại và dịch vụ phát triển mạnh; chỉ số giá cả hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có tăng nhưng đời sống dân cư ổn định không có biến động lớn. Các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao được duy trình và phát triển. Các cấp, các ngành trong tỉnh tiếp tục triển khai và thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP; Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ và Quyết định 290/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013. Thực hiện có hiệu quả công tác an sinh xã hội chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai nhanh để ổn định sản xuất và đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh; chương trình chung tay xây dựng nông thôn mới được tích cực chỉ đạo; đã được cả hệ thống chính trị vào cuộc tích cực, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó cũng còn những hạn chế về đầu tư nguồn lực cho vùng sâu, vùng cao về hạ tầng giao thông và y tế, giáo dục, các chính sách an sinh xã hội nhất là hỗ trợ sản xuất cho đối tượng được thụ hưởng chưa được thường xuyên. Công tác rà soát quy hoạch lại hoặc bổ sung quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn để đảm bảo đủ các điều kiện thu hút đầu tư vào vùng nguyên liệu để hình thành rõ các vùng nguyên liệu tập trung và xây dựng cở sở chế biến nhằm duy trì thế mạnh phát triển bền vững còn chậm./.

    

Như Thủy (Tổng hợp)

 


THÔNG TIN CẢI CÁCH

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Tổng số lượt truy cập: 31479607
Số người đang truy cập: 52