Ai cũng biết thuỷ điện là nguồn điện có được từ năng lượng nước. Người ta ngăn dòng sông, suối để nước được tích tại các hồ chứa sau đó điều tiết nước làm quay một turbine và vận hành máy phát điện.
Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là hạn chế được giá thành nhiên liệu. Các nhà máy thuỷ điện không phải chịu cảnh tăng giá của nhiên liệu hoá thạch như dầu mỏ, khí gas tự nhiên hay than đá, và không cần phải nhập nhiên liệu. Thuỷ điện là nguồn năng lượng có thể hồi phục. Các nhà máy thuỷ điện cũng có tuổi thọ lớn hơn các nhà máy nhiệt điện, một số nhà máy thuỷ điện đang hoạt động hiện nay trên thế giới đã được xây dựng từ 50 đến 100 năm trước. Chi phí nhân công cũng thấp bởi vì các nhà máy này được tự động hoá cao và có ít người làm việc tại chỗ khi vận hành thông thường.
Lợi ích là thế mà nhu cầu lại rất lớn. Căn bệnh thiếu điện “kinh niên” của nước ta chính là miếng bánh thị phần tiềm năng béo bở cho hàng loạt dự án thủy điện thời gian qua đồng loạt ra đời…
Hàng loạt dự án thủy điện khởi công
Hình 2: Nhà máy thủy điện Yaly công suất 720MW
Tỉnh Lào Cai hiện nay đã có 21 nhà máy thủy điện đã khởi công xây dựng tổng công suất là 465 MW, với tổng mức đầu tư đạt hơn 8.000 tỷ đồng.
Công trình thủy điện Ngòi Phát, công suất 72 MW; Nhà máy thủy điện Minh Lương, công suất 23 MW, Thủy điện Séo Choong Hô được xây dựng tại huyện Sa Pa, công suất 22 MW. Nhà máy thủy điện Nậm Pung xây dựng trên diện tích 31,8 ha, thuộc xã Mường Hum, huyện Bát Xát, Lào Cai, tổng mức đầu tư 134 tỷ đồng với tổng công suất 108,4 MW, tổng điện năng bình quân là 543,36 triệu kwh.
Tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, “phong trào” làm thủy điện cũng trở nên rầm rộ trong những năm gần đây. Riêng tỉnh Quảng Nam hiện nay đã có 57 dự án về thủy điện, trong đó 46 dự án từ năm 2006 và 11 dự án thủy điện nhỏ mới bổ sung.
Sở Công thương Lâm Đồng cho biết hiện có 43 dự án thủy điện vừa và nhỏ có tổng công suất thiết kế 461,8 MW đã được các nhà đầu tư trong và ngoài nước đăng ký với tổng vốn đầu tư gần 9.000 tỉ đồng. Trong đó có 34 dự án đã được UBND tỉnh Lâm Đồng cấp chủ trương đầu tư, còn lại đang hoàn tất các thủ tục. Lâm Đồng hiện có 91 dự án thủy điện vừa và nhỏ đã được qui hoạch với tổng công suất thiết kế 502 MW đang gọi vốn đầu tư.
Tỉnh Kon Tum đã phối hợp với Viện Năng lượng khảo sát và quy hoạch trong giai đoạn đầu được 60 công trình thủy điện nhỏ và vừa có tổng công suất lắp máy đạt 288,8 MW và đã được UBND tỉnh phê duyệt để xúc tiến kêu gọi đầu tư.
Tỉnh Gia Lai, nổi tiếng với Công trình thủy điện Ialy được xây dựng trên sông Sê San, một con sông lớn ở Tây Nguyên. Đây là công trình trọng điểm quốc gia, lớn thứ hai sau thủy điện Hòa Bình, với công suất 720MW và sản lượng điện trung bình 3,7 tỷ Kwh. Trên và dưới thủy điện Ialy hiện đang xây dựng thêm 4 nhà máy thủy điện khác: Sê San 3, Sê San 4, Plei Krông và Thượng Kon Tum.
Tỉnh Đắk Nông, theo kế hoạch từ 2004 đến 2010 cũng dự định xây dựng 64 thủy điện với mong muốn hòa vào lưới điện quốc gia.
Tại tỉnh Đắk Lắk, theo báo Lao Động số 69 ra ngày 30/03/2009, Thủy điện Buôn Kuôp khởi công ngày 21.3.2003 với nguồn vốn đầu tư gần 5.000 tỉ đồng, sau hơn 5 năm thi công, vào 17 giờ ngày 29.3.2009, gồm 2 tổ máy - công suất 280MW, do EVN làm chủ dự án đã chính thức phát điện lên lưới quốc gia từ tổ máy số 1 (công suất 140MW). Theo thiết kế, bình quân mỗi ngày 1 tổ máy sẽ cung cấp 2 triệu Kwh điện, trị giá trên 2 tỉ đồng.
Hình 3: Sông Sê-rê-pôk
Ngoài Thủy điện Buôn Kuôp, Ðak Lak còn có 21 công trình thủy điện vừa và nhỏ, với tổng vốn đầu tư gần 1.990 tỷ đồng. Tổng công suất lắp máy của các công trình thủy điện này đạt 106MW, với điện lượng trung bình 485 kwh. Trong số các dự án trên, có một nhà máy đã hòa lưới điện quốc gia là thủy điện Krông Hin 2 công suất 5 MW.
- Công trình thủy điện Krông Kma công suất 12 MW sau một thời gian đình chỉ, nay cũng đang được xây dựng. Ngoài ra, có 5 công trình đang giải phóng mặt bằng chuẩn bị thi công. 14 dự án còn lại đã có chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân tỉnh, đang điều tra cơ bản, khảo sát lập hồ sơ dự án. Theo quy hoạch, trên địa bàn Đắk Lắk có gần 100 điểm có tiềm năng thủy điện vừa và nhỏ, với tổng công suất lắp máy gần 190 MW.
- Thủy điện Buôn Tua Srah: công suất lắp máy 85MW, khởi công vào cuối năm 2004 dự kiến đưa vào vận hành năm 2009.
- Thủy điện Srêpốk 3: công suất lắp máy 137MW, khởi công vào cuối năm 2005 sẽ đưa vào vận hành năm 2010.
- Thủy điện Srêpốk 4: công suất lắp máy 33MW.
- Thủy điện Đức Xuyên: công suất lắp máy 58MW.
- Thủy điện DrâyHlinh: công suất lắp máy 28MW…
Hình 4: Sông Krông Ana
Đầu tư vào thủy điện, nên không?
Hình 5: Công trường thủy điện Sơn La
Trong chiến lược phát triển chung ngành điện đặt ra kỳ vọng, tiến tới sẽ phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện theo hướng hiện đại. Trong đó quan tâm đến việc phát triển thuỷ điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí, điện nguyên tử…
Việc ồ ạt xây dựng các công trình thủy điện về phương diện nào đó đã nhận được sự đồng tình của các nhà quản lý cũng như người dân, khách hàng của EVN (Tập đoàn Điện lực Việt Nam). Tuy nhiên, không hẳn cứ “ngăn sông” làm thủy điện là đảm bảo mục tiêu đủ điện, đặc biệt là với những dự án thủy điện nhỏ.
Theo ông Nguyễn Quốc Ân, trợ lý Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, trên thực tế công suất từ các nguồn thủy điện nhỏ cũng không ăn thua, chẳng qua chỉ là “muối bỏ bể”.
Bên cạnh đó điện từ các nhà máy này chỉ được duy trì vào mùa mưa, riêng mùa khô diễn ra tình trạng thiếu điện trầm trọng thì không có nước!
Ngày 2/7 vừa qua, Giám đốc Sở Công Thương Lâm Đồng Nguyễn Tri Diện cho biết các nhà máy của Thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi hiện chỉ vận hành khoảng 3 tiếng đồng hồ mỗi ngày vì 2 hồ thủy điện với diện tích mặt nước hơn 3.000 ha đang ở mực nước chết.
Cũng theo ông Ân, rót tiền để đầu tư vào thủy điện nhỏ hiện nay không phải là biện pháp tối ưu, trong khi thực tế nguồn để khai thác về thủy điện cũng không còn nhiều nhưng suất đầu tư vào lĩnh vực này lại tương đối cao.
“Trước đây chúng ta tập trung vào các dự án thủy điện lớn, bây giờ thủy điện lớn không còn thì quay sang đầu tư vào các dự án thủy điện nhỏ. Tuy nhiên, như đã nói thì những dự án đó sẽ không góp phần nhiều vào việc giải quyết tình trạng thiếu điện trong mùa khô”, ông Ân nghi ngại.
Trong hướng mở của mình, ông Ân cho rằng các doanh nghiệp nên cân nhắc giữa các yếu tố để đầu tư vào nguồn năng lượng tiềm năng như gió, mặt trời, các dạng năng lượng khác… đó là hướng nên đi sâu. Nếu quan tâm và khai thác được các dạng tiềm năng đó thì mới có thể đảm bảo tính bền vững, lâu dài nguồn năng lượng.
Một trong những lo ngại khác là hiện nay việc khai thác nguồn năng lượng nước từ các dự án thủy điện sẽ ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp. “Bản chất của thủy điện tác động nhiều đến tự nhiên vì nó chặn dòng, thay đổi dòng chảy…”, ông Ân khuyến cáo.
Thủy điện “nhí”
Anh Phạm Bá Đợi, ở bản Pu, xã vùng cao Thành Sơn, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa mới học hết lớp 3, nằng nặc đòi bố mẹ cho nghỉ học để ra Co Lương (Mai Châu, Hòa Bình) tìm việc phụ giúp gia đình. Anh học sửa xe máy, sửa chữa ti vi, đồ điện dân dụng. Ðầu năm 2000, anh về Thành Sơn mở tiệm sửa chữa xe máy và các thiết bị sử dụng điện.
Hình 6: Anh Phạm Bá Đợi và nhà máy thủy điện"nhí"
Cách đây 5 năm, khi máy phát điện mini (loại 0,5- 1kw) chạy bằng sức nước của Trung Quốc thâm nhập vào thị trường các xã vùng cao đã phần nào đưa ánh điện về một số gia đình có điều kiện kinh tế. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của loại máy phát điện này là độ bền không cao, đặt ở suối thường bị trôi khi mùa mưa lũ về...
Từ nguyên lý hoạt động của máy phát điện mini chạy bằng sức nước, anh Ðợi đã cải tiến, lắp đặt hệ thống turbine cho máy phát điện cỡ lớn để đưa ánh điện về với bản làng thành công.
Chị Hà Thị Hoa - vợ anh Đợi bộc bạch: “Bây giờ nghĩ lại mới thấy anh ấy “liều”. Đầu tháng 2 năm 2006, bọc trong túi hơn 10 triệu tiền tích cóp của gia đình nhiều năm, anh ấy ra Nam Định tìm mua một chiếc máy phát điện công suất 5 kw, rồi về Co Lương ở miết trong xưởng cơ khí của một người bạn để chế tạo, lắp ráp turbine. Sau một tuần, anh ấy chở chiếc máy phát điện và chiếc turbine được độ chế hoàn chỉnh về nhà. Sáng hôm sau anh hì hục khuân đá, xi măng xuống chặn dòng suối Pu, xây dựng “nhà” để lắp máy phát điện. Rồi hệ thống đường dây điện dài hơn 1km được kéo từ “nhà máy thủy điện” đặt trên dòng suối Pu về nhà cũng được anh Đợi hoàn tất.
Hôm “đóng” điện đầu tiên, cả bản Pu kéo đến nhà anh Đợi chứng kiến, vui như ngày hội. Khi ánh điện bừng sáng, rồi chiếc tivi màu đặt giữa nhà anh Đợi được bật lên với khuôn hình căng nét, âm thanh trong trẻo, đồng bào trong bản vỗ tay rào rào.
Đưa dòng điện về các bản làng
Sau khi anh Đợi lắp đặt thành công chiếc máy phát điện công suất 5kw, nhiều gia đình trong bản đã đến đăng ký “mua” điện của anh.
Đến nay, sau hơn một năm triển khai xây dựng, lắp đặt các “nhà máy thủy điện”, anh Đợi đã xây dựng được 15 máy phát điện loại từ 3- 10 kw trên nhiều dòng suối ở các xã Trung Thành, Trung Sơn, Thành Sơn, huyện Quan Hóa; Trung Lý, Mường Lý huyện Mường Lát.
Mỗi máy phát điện của anh Đợi đang có thể cung cấp điện sinh hoạt cho 20 hộ gia đình, với giá bán điện là 2.000 đồng/kwh. Ngoài ra, “nhà máy thủy điện” của anh Đợi còn cấp điện cho UBND xã, trạm Y tế xã và các trường học ở xã Thành Sơn.
Ông Ngân Văn Dướng, Bí thư Đảng ủy xã Thành Sơn, cho biết: “Có điện của anh Đợi, các thiết bị như máy vi tính, máy photocopy, máy in, quạt máy của xã mới sử dụng được. Như vậy hiệu quả công việc của xã được nâng lên rõ rệt”.
Bỏ ra hàng trăm triệu đồng để mua sắm, lắp đặt các “nhà máy thủy điện”, cung cấp điện cho đồng bào ở nhiều xã vùng cao, anh Đợi đã và đang góp phần đưa “ánh sáng văn minh” đến với người dân nơi đây.
Trận lũ lịch sử đầu tháng 10/2007 đã làm hư hỏng một số đập, turbine của máy phát điện... với tổng thiệt hại lên tới gần 50 triệu đồng nhưng không làm anh Đợi nản lòng.
Sau lũ, anh lại tu sửa các chỗ hư hỏng của “các nhà máy thủy điện” để điện lại đến với đồng bào nơi đây. Anh Đợi tâm sự với chúng tôi anh vừa lắp đặt xong bộ turbine mới cứng do anh chế tạo để lại lên đường đi xây dựng “nhà máy thủy điện” trên dòng suối Khiết ở xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa.
Xây đập thủy điện trên sông Mekong: Lợi bất cập hại
Ở Trung Quốc đã hoàn tất chuỗi đập nước khổng lồ trên sông Lan Thương (tên Trung Quốc của sông Mekong) là Mạn Loan 1.500MW, Đại Chiếu Sơn 1.350 MW và hai đập khác là Tiểu Loan 4.200 MW, Cảnh Hồng 1.350KW. Nhiều tổ chức bảo vệ môi sinh đã lên tiếng cảnh báo những nguy cơ chắc chắn sẽ xảy đến một mai nếu các nước có con sông Mekong đi qua cứ khư khư với các chương trình phát triển dân sinh của họ, tận dụng khai thác tiềm lực thủy điện của con sông mà không để ý gì đến hậu quả sẽ dẫn tới cho môi trường.
Hình 7: Đập Manwan (Mạn Loan) trên sông Mê Kông
Chỉ đề cập tới tác hại của việc xây đập trên dòng chính đối với ngư nghiệp trong vùng thôi, RPI cho biết như sau:
Để có đủ nước vận hành hai đập thủy điện Mạn Loan và Đại Chiếu Sơn, Trung Quốc đã thường xuyên đóng cửa đập khiến mực nước sông đã xuống tới mức thấp nhất. Dân cư các nước hạ nguồn phải chịu ảnh hưởng tức thời như nguồn cá tôm giảm sút, nhiều khúc sông cạn tới mức tàu thuyền không lưu thông được, riêng tại vùng đồng bằng sông Cửu Long thì tình trạng đất nhiễm mặn đã xảy ra ngày càng trầm trọng.
Đã vậy, từ khoảng giữa năm 2006, chính phủ các nước Lào, Thái Lan và Căm Bốt đã tính tới việc nghiên cứu tính khả thi của ít nhất 11 dự án xây đập trên dòng chính của sông Mekong ở lưu vực dưới. Đó là những đập thủy điện Pakbeng, Luangprabang, Sayabouli, Paklay, Sanakham, Latsua và Donasehong ở Lào, Ban Koum và Pakchom dọc biên giới Lào-Thái và Strung Treng, Sambor tại Cam Bốt. Lào, một trong những quốc gia nghèo nhất trong khu vực đang tìm cách khai thác tiềm năng thủy điện để trở thành nguồn cung cấp điện cho các nước láng giềng, cụ thể như Việt Nam và Thái lan.
Theo nhà văn Ngô Thế Vinh, trong ký sự Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch (NXB Văn Nghệ Mới 2007), không phải bây giờ mà từ những năm 40 thế kỷ trước các nhà xây đập Mỹ đã quan tâm tới tiềm năng thủy điện của con sông Mekong và kế hoạch phát triển lưu vực dưới sông Mekong với những đập nước trên dòng chính ở hạ nguồn đã được dự tính trong những năm cuối thập niên 1950. Thế nhưng cuộc chiến tranh Việt Nam lan rộng ra ba nước Đông Dương đã làm ngưng các dự tính này và giờ đây một lần nữa con sông Mekong lại phải đối mặt trước nguy cơ bị tàn phá.
Những kế hoạch đang được chuẩn bị thực hiện
Trước mắt, Căm Bốt đang xúc tiến việc xây dựng một đập thủy điện Sambor trên dòng chính sông Mekong tại tỉnh Kratíe khu vực giữa lãnh thổ. Cuối năm 2006, chính quyền Phom Penh và công ty Trung Quốc China Southern Power Grid Co. đã ký biên bản ghi nhớ nghiên cứu tính khả thi của hai công trình. Thứ nhất là đập thủy điện có công suất 2.600 MW chắn hết lòng sông. Đây là biến thể của kế hoạch nguyên thủy được Ban Thư Ký Ủy Ban Sông Mekong đề nghị từ năm 1994 có công suất 3.300MW mà công trình cũng chắn ngang cả lòng sông. Đập thủy điện này có hồ chứa dự kiến chiếm đến 880 km2, cần di dời chỗ ở của trên 5000 người vào thời điểm ấy. Một đập thứ hai, nhỏ hơn, chỉ chắn một phần lòng sông với hồ chứa khoảng 6 km2, công suất 465MW.
Về phía Lào, đầu năm 2008, chính quyền đã ký thỏa thuận với một công ty Malaysia xây dựng đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong ở đoạn thác Khône, nơi dòng sông chia ra nhiều nhánh nhỏ và bắt đầu chảy qua Căm Bốt.
Con đập tương lai sẽ chặn nhánh sâu nhất nơi đây và cũng là nơi các đàn cá sẽ lội ngược dòng vào mùa khô tháng Tư tháng Năm, khi mực nước sông Mekong xuống thấp nhất để tìm nguồn thức ăn.
Các nhóm bảo vệ môi trường chống lại việc xây đập trên dòng chính sông Mekong
Các chuyên viên ngư nghiệp và những tổ chức chống xây đập nước trên dòng chính sông Mekong nghiêm khắc cảnh báo về những hậu quả tiềm ẩn tai hại của các công trình này.
Chuyên viên Carl Middleton nhấn mạnh hậu quả của việc xây đập Sambor, đó là ngăn chặn dòng di chuyển của cá đi tìm nguồn thức ăn, làm tổn hại nghiêm trọng cho ngư nghiệp khu vực vì đã chặn dòng cá di chuyển ngược để đẻ trứng lâu nay, chẳng hạn giữa Pakse ở phía nam Lào và xa hơn là Biển Hồ, Tonle Sap, phá hoại nặng nề các hố sâu dưới lòng sông vốn là khu trú ẩn của vô số loài cá. Một công trình nghiên cứu của Ủy Ban Sông Mekong năm 1994 về dự án xây đập thủy điện công suất 3.300MW cũng chia sẻ mối lo ngại nói trên. Tưởng cũng nên nhắc lại là sông Tonle Sap cung ứng hàng năm cho ngư dân Căm Bốt đến hai phần ba lượng cá đánh bắt được, mà phần lớn trong số đó là các loại cá di trú.
Trong hội nghị chuyên đề lần thứ sáu về Ngư Nghiệp Sông Mekong tổ chức tại Vientiane năm 2003, một bài tham luận cũng đã khẳng định: ''Bất kỳ đập nước nào trên dòng chính sông Mekong xây dựng trên đất Căm Bốt cũng đều có hại cho ngư nghiệp, nhưng chọn địa điểm Sambor xây dựng đập là tệ hại nhất.'' Hệ quả này được lặp lại với bất kỳ con đập nào xây chắn ngang dòng chính sông Mekong.
Hình 8: Sông Mekong
Nhưng có điều là Ủy Hội Sông Mekong, trong đó có Việt Nam, hầu như đã giữ thái độ thụ động trước những lời cảnh báo này.
Con sông Mekong với nguồn đa dạng thủy học đặc biệt phong phú, đứng thứ nhì, chỉ sau con sông Amazone. Xây dựng đập trên dòng chính con sông là đẩy các loài cá quý hiếm như Irrawady Dolphin, loại cá Catfish khổng lồ hàng trăm ký và vô số chủng loại cá di trú khác tới chỗ diệt vong.
Trở lại Việt Nam, chúng ta thấy Quảng Nam là một tỉnh miền Trung với địa hình đa dạng và là địa điểm khá thuận lợi cho việc xây dựng các đập thủy điện. Ban quy hoạch của tỉnh dự tính sẽ xây dựng trên 65 các đập thủy điện theo hệ thống hình xương cá và các đập thủy điện này hỗ trợ lẫn nhau từ các hồ chứa, được gọi là hệ thống thủy điện bậc thang.
Đa số các đập thủy điện được tập trung vào vùng xa của tỉnh nơi có các con sông, hệ thống dòng chảy mạnh. Đây cũng là nơi sinh sống của nhiều nhóm dân tộc thiểu số.
Đập thủy điện Sông Bung 4 được xây dựng trên sông Bung, xã Zuôi, huyện Nam Giang. Có khoảng 1.096 người dân thuộc 4 làng phải di dời khi công trình thủy điện này được xây dựng, đa số là người dân tộc Cơ Tu.
Hầu hết người dân nơi đây chủ yếu sống dựa vào rừng. Hàng ngày, họ vào rừng lấy củi, kiếm thức ăn, để thay thế một số loại thực phẩm khác họ cũng trồng rau củ, hoặc lúa trên đồi, đặc biệt nơi đây có loại cây “Tà Vạt” - là loài cây địa phương và người Cơ Tu dùng để làm rượu cho các ngày lễ của dân làng hay dùng để uống hàng ngày.
Sông Bung là nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho dân làng. Cuộc sống của họ lệ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương đã và đang nuôi sống giá trị văn hóa và bao nhiêu là người dân cho cả vùng.
Tuy nhiên, cuộc sống của họ sẽ phải thay đổi hoàn toàn khi dự án đập thủy điện Sông Bung 4 được xây dựng tại đây. Cả đoạn sông Bung với chiều dài khoảng 50 km, sẽ xây dựng 6 đập thủy điện vừa và nhỏ - đó là chủ trương của tỉnh đề ra cho cả vùng nhằm tận dụng hết sức điều kiện thiên nhiên tại địa phương.
Làng Pa Rum B là một trong 4 làng bị di dời của xã, cuộc sống của họ bị thay đổi hoàn toàn khi mà họ phải đến nơi ở mới - những khu tái định cư. Một người đã than thở rằng: “Bên kia chẳng có gì cả, đất thì không thể trồng trọt, nguồn nước thì hiếm vì sông và khe nước thì khá là xa, cây to không có, đất đai không bằng phẳng cho nên việc xây nhà và trường học rất khó khăn.”
Hình 9: Công trình thủy điện Sơn La
Dự án thủy điện Sơn La, công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á sẽ gây ngập hơn 23.000 ha, do vậy hơn 20.000 hộ dân sống tại 3 tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu đã phải di dời. Việc này được Chính phủ phê duyệt tổng số vốn hơn 10.000 tỷ đồng, trong đó tái định cư nông thôn gần 7.100 tỷ đồng; tái định cư đô thị 1.650 tỷ đồng...
Đoàn giám sát cho biết, hiện mới chỉ có 40% số hộ tái định cư được giao đất; 26 tỷ đồng đã được dùng để hỗ trợ sản xuất cho 1.850 hộ dân. Tại 11 điểm tái định cư mà đoàn đã làm việc, hàng trăm hộ dân đều thấy chưa yên tâm về cuộc sống mới, không rõ hướng sản xuất, làm kinh tế trong thời gian tới thế nào dù đã tái định cư được hơn 2 năm... Tới vùng đất mới, sống trong những ngôi nhà khang trang, có tiện nghi sinh hoạt nhưng nhiều người dân lại chỉ "quanh quẩn xem tivi, ngắm mây trời qua ô cửa sổ".
Trước phản ánh của ông Phạm Văn Tư, người dân sống tại tỉnh Điện Biên: "Chuyển đến nơi ở mới từ năm ngoái nhưng tới nay, nhà cửa, hoa màu của tôi vẫn chưa được thanh toán". Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết, nguồn vốn phục vụ dự án di dân tái định cư luôn được Chính phủ quan tâm. Việc chậm thanh toán là do thủ tục. Kết quả giám sát của Thường vụ Quốc hội cũng cho thấy, việc giải ngân đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng đạt rất thấp so với kế hoạch. Hiện mới giải ngân được hơn 133 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư được phê duyệt gần 830 tỷ đồng.
Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải giải trình, trong 6 năm triển khai công tác di dân, nguồn vốn trung ương cấp vẫn đảm bảo yêu cầu. Tuy nhiên ông cũng thừa nhận công tác giải ngân còn chậm vào cuối năm 2008.
"Chính phủ nhận lỗi vì chưa giải quyết rốt ráo vấn đề này. Trong cơ chế giải quyết vốn còn chậm", Phó thủ tướng thẳng thắn.
Theo kế hoạch việc di dân phải hoàn tất vào tháng 7/2010, tuy nhiên, theo báo cáo của 3 tỉnh tới nay mới đạt hơn 67%, với gần 13.000 hộ. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng lo ngại: "Liệu có hoàn thành?".
Trước những khó khăn về việc di dời và đảm bảo cuộc sống đối với những hộ dân nơi đây chưa giải quyết được thì tại công trình thủy điện Sơn La nhiều vết nứt đã được Hội đồng nghiệm thu Nhà nước báo cáo về.
Hình 10: Thủy điện Sơn La
Vết nứt bê tông xuất hiện tại các khối C2, C3, L1, C4, C5 Đập không tràn bờ trái và bê tông thường tại khối 26 Đập không tràn bờ phải.
Trước đó, chủ đầu tư là Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) đã chỉ đạo các bên liên quan tổ chức khảo sát, đánh giá, xác định nguyên nhân gây nứt và đề xuất giải pháp khắc phục. Đơn vị Tư vấn Colenco đã có báo cáo ban đầu về nguyên nhân gây rạn nứt.
Tuy nhiên, Hội đồng nghiệm thu Nhà nước cho rằng, những nhận định của Tư vấn Colenco về nguyên nhân nứt ở các khối đổ và ảnh hưởng của các vết nứt đến an toàn chịu lực của đập chưa thuyết phục. Để có biện pháp ngăn ngừa nứt cho các khối đổ tiếp theo cũng như biện pháp xử lý vết nứt, Hội đồng nghiệm thu Nhà nước đã yêu cầu chủ đầu tư chỉ đạo Tư vấn thiết kế tính toán kiểm tra, khảo sát đầy đủ về các thông số môi trường (nhiệt độ không khí, độ ẩm tương đối, bức xạ nhiệt...), hồ sơ hoàn công các lớp đổ. Ngoài ra, kiểm tra độ ổn định và độ bền của đập trong điều kiện vẫn tồn tại các vết nứt.
Hiện Tư vấn Colenco đang nghiên cứu và hoàn thiện báo cáo. Các chuyên gia của Hội đồng đang phối hợp với Chủ đầu tư và các bên để tạo được sự thống nhất về đánh giá nguyên nhân cũng như biện pháp khắc phục.
Những điều suy tư
Hình 11: Du lịch trên sông Sê-rê-pôk
Không thể phủ nhận những lợi ích thiết thực của thủy điện đối với tình hình đất nước ta hiện nay như Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Ialy, như “Thủy điện nhí” của anh Phạm Bá Ðợi ở Bản Pu.
Thế nhưng, khi tham quan một vòng các thủy điện tại Ðak Lak tôi chợt nhớ đến những công trình thủy lợi những năm 70 sau ngày thống nhất đất nước. Ngày ấy, người ta giương cao khẩu hiệu “tất cả cho thủy lợi”, nhà nhà làm thủy lợi, người người làm thủy lợi; đất sỏi đá như vùng Ðoàn Kết, Hòa Phú cũng đắp bờ vùng, bờ thửa, mương tiêu, mương tưới, đưa nước vào cấy lúa. Lúa sống không được, dân đói, đổ lỗi cho cơ chế.
Nhắc đến cơ chế, tôi lại nhớ đến những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn được chủ trương huy động thanh niên xung phong, đội chủ lực, dân công, dồn hết nhân lực, vật lực khai hoang biến thành những nông trường rộng lớn như Buôn Trấp, Buôn Triết, Buôn Wa Vầm, Buôn Niêng… kết quả thu được là bắp, là sắn mì, là bo bo tươi không có nơi chế biến, bảo quản, lại tốn thêm một lần nữa chở đi đổ bỏ mà dân thì đang đói triền miên.
Trịnh Công Sơn có phải nhà tiên tri không, tôi không biết nhưng bài hát “Có một dòng sông đã qua đời” gợi cho tôi nỗi xót xa:
Mười năm chân bước trên đường dài
Gặp nhau không nói không nụ cười
Chút tình dường như hiu hắt bay
Mười năm khi phố khi vùng đồi
Nhìn nhau ôi cũng như mọi người
Có một dòng sông đã qua đời.
Phải chăng đó chính là lời báo trước về dòng sông nơi ông được sinh ra, cao nguyên Đak Lak, dòng sông mà tôi đang chứng kiến, dòng sông đang bị ngăn lại bởi bê tông, sắt thép…
Chảy đi sông ơi! Thực ra không gì có thể ngăn được sức sống mãnh liệt của dòng Sê-rê-pôk vào mùa mưa, không gì có thể xóa mờ hình ảnh hùng vĩ của những ngọn thác nổi tiếng: Dray Sap, Dray Nu, Gia Long, Trinh Nữ,… Nhưng bây giờ là giữa tháng tư, cuối mùa khô. Tôi đang đứng trước một dòng sông đã qua đời.
Hình 12: Nhìn dòng sông từ trên cầu Buôn Kuôp
Hình 13: Dòng sông phía dưới thượng nguồn |